Âm nhạc thời Vàng Son

Cuộc tình buồn trong bài hát “Trên Ngọn Tình Sầu” (Du Tử Lê – Từ Công Phụng)

0

“Trên Ngọn Tình Sầu” là một trong những ca khúc nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Từ Công Phụng, phổ từ bài thơ “67, khúc thêm cho Huyền Châu” của Du Tử Lê. Câu chuyện trong bài thơ này là một mối tình có thật của nhà thơ Du Tử Lê với cô gái tên là Huyền Châu. Mặc dù sau này đã có gia đình, ông vẫn nhiều lần nhắc tới mối tình này với một sự trân trọng lớn, thậm chí còn để hình của Huyền Châu trên giá sách.

Sau mối tình không thành với Du Tử Lê, cô Huyền Châu sống một mình không lập gia đình cho đến khi qua đời năm 2011. Hãy cùng đọc lại những dòng tâm sự của Du Tử Lê về Huyền Châu và Trên Ngọn Tình Sầu.

Hình của bà Huyền Châu trên giá sách Du Tử Lê

Khi tôi đặt tựa đề bài thơ “67, khúc thêm cho Huyền Châu”, thì “67” là con số viết tắt của năm 1967. Bài thơ tám chữ này, sau đấy được nhạc sĩ Từ Công Phụng tìm vào và soạn thành ca khúc, với tựa đề mới: “Trên Ngọn Tình Sầu”.

Theo cố nhà văn Mai Thảo thì một trong những ưu thế của thi ca là tính “phi thời gian”. Ông cho rằng, một bài thơ một khi đã vượt qua đãi lọc của thời gian thì nó sẽ sống mãi, dù tác giả không còn nữa.

Bản chất, tôi chưa bao giờ lạc quan hay bi quan tới mức thầm nghĩ: Có thể bài thơ này sẽ tồn tại dài lâu hay, bài thơ kia, sẽ có một đời sống ngắn ngủi – (Dù cho đấy có là bài thơ tôi hài lòng, đắc ý nhất)

Tôi vẫn quan niệm, một bài thơ khi ra khỏi tôi, nó không còn thuộc về tôi nữa. Nó sống / chết theo định mệnh của riêng nó.

Trở lại với bài thơ tám chữ, “67, khúc thêm cho Huyền Châu”, tôi viết cách đây hơn nửa thế kỷ. Nếu không có hai con số “67”, tôi e không tài nào nhớ nổi thời gian ra đời của nó!

Giữa thập niên 1990, đạo diễn Đinh Anh Dũng khi đó còn sống ở miền nam Cali, được nữ ca sĩ Thái Xuân, Trung tâm băng nhạc Diễm Xưa mời thực hiện bộ video có tên “Du Tử Lê – Giữ Đời Cho Nhau.”

Nhạc sĩ Từ Công Phụng và thi sĩ Du Tử Lê – hai tác giả của “Trên Ngọn Tình Sầu”

Thời điểm bài thơ chuyển thể thành ca khúc là năm 1969, sau khi bài thơ được in lại trong tập thơ nhan đề “Tay gõ cửa đời”, xuất bản bởi nhà XB Nguyễn Đình Vượng, Saigon, tháng 6 năm 1967. Hồi đó, tôi và nhạc sĩ Từ Công Phụng chưa thân nhau. Người giới thiệu và đưa tập thơ “Tay gõ cửa đời” của tôi cho Phụng là Nguyễn Thiệp, phóng viên Quân đội, làm cùng một phòng với tôi. Thiệp bảo bài thơ hay và lạ lắm. Vì ngay câu đầu tiên mở vào bài thơ đã là một câu thơ lạ… Tuy Thiệp không giải thích rõ được, nhưng tôi hiểu, Thiệp muốn nói tới câu thơ:

“Hạnh phúc tôi từ những ngày nước lớn”.

Cách đây hơn nửa thế kỷ, chưa hoặc rất hiếm có một người làm thơ nào, về phương diện văn phạm hay cấu trúc câu thơ, lại đặt tính từ “hạnh phúc” trước nhân xưng đại danh tự “tôi”. Từ Công Phụng đồng ý nhận xét của Thiệp, đã phổ nhạc ngay bài thơ ấy.

Một buổi sáng, Phụng rủ tôi và Thiệp ra café La Pagode, hát cho chúng tôi nghe và yêu cầu tôi chọn cho ca khúc một tưa đề khác: Không quá riêng tư như tựa đề bài thơ. Nhìn thấy mấy cây cổ thụ trên đường Lê Thánh Tôn, nhớ những ngày buồn bã vì chuyện Huyền Châu, qua bao nhiêu năm, tháng nắng, mưa một mình… tôi chọn “Trên Ngọn Tình Sầu” cho bài thơ ở dạng ca khúc.

Thời còn trẻ ở Việt Nam, Đinh Anh Dũng cũng rất thích ca khúc này. Nên khi dàn dựng phần hình ảnh và chi tiết chung quanh ca khúc, Dũng đã bay đến thành phố Porland, tiểu bang Oregon, để phỏng vấn nhạc sĩ Từ Công Phụng. Dịp này, nếu Phụng không kể lại và được thu hình cho video, thì tôi hoàn toàn không biết người đóng vai “môi giới” bài thơ của tôi với Phụng là Nguyễn Thiệp!

Du Tử Lê và Đinh Anh Dũng

Nên khi dàn dựng phần hình ảnh và chi tiết chung quanh ca khúc, Đinh Anh Dũng đã bay đến thành phố Porland, tiểu bang Oregon, để phỏng vấn nhạc sĩ Từ Công Phụng. Sau đấy, họ Đinh lại bay về Saigon, tìm tới căn nhà của Huyền Châu – linh hồn bài “67, khúc thêm cho Huyền Châu”, địa chỉ 112 Bis Bến Chương Dương, Saigon.

Người con gái linh hồn của bài thơ đã xin lỗi Đinh Anh Dũng là không thể trả lời cuộc phỏng vấn có thu hình của Dũng. Cô cũng xin lỗi không có một tấm hình cá nhân nào cho họ Đinh mượn để bỏ vào cuốn video…

Đạo diễn bộ video “Du Tử Lê – Giữ Đời Cho Nhau” ngạc nhiên và thất vọng trước sự từ chối dứt khoát ấy. Phần cá nhân tôi, tôi không ngạc nhiên khi họ Đinh lặp lại gần như nguyên văn lời của Huyền Châu dành cho Dũng mà nhiều phần là nhằm nhắn gửi cho tôi:

“Cho tới giờ phút này, tôi vẫn là người con gái độc thân, nghĩa là tôi không có một trở ngại nào nếu tôi có xuất hiện trong cuốn video đang được thực hiện bởi ông. Nhưng tất cả ý nghĩa của đời sống và tình yêu của tôi, nó diễn ra ở đây, ở những con đường, những hàng cây thuộc thành phố này. Không phải ở một nơi nào khác. Sự tha thiết muốn có tôi trong cuốn video của anh Lê, nếu đó cũng là ý của anh ấy thì đó cũng chỉ là một cách nói của anh Lê mà thôi…”

Nhớ lại, lần đầu tiên tôi gặp Huyền Châu là một buổi sáng, Tháng Năm hay Tháng Sáu năm 1962, tôi được chọn làm SVSQ đại diện sinh viên đi theo trung úy Sinh, đại diện trường Bộ Binh Thủ Đức, ngồi cùng xe nhà thầu, đi chợ Cầu Ông Lãnh, mua nhu yếu phẩm cung cấp phần ăn hàng ngày cho sinh viên… Nhà thầu chọn chợ Cầu Ông Lãnh vì họ cho là chợ có đủ hàng nhất, lại là chợ đầu mối, tức bán sỉ, giá rẻ.

Trước khi ngang qua căn nhà mặt tiền, số 112 Bis Bến Chương Dương, trông vào chợ Cầu Ông Lãnh, trung úy Sinh bảo tôi, trong căn nhà đó, có một cô bán kẹo rất xinh. Ông đố tôi vào, nói chuyện với cô ấy.

Từ rất nhỏ, tôi đã vốn nhút nhát… Nhưng khi bị thách đố, tôi liều lĩnh, nhận lời.

Tiệm tạp hóa là một phòng lớn, chỉ bày một tủ kính, bán kẹo, ô mai và sơ sài vài loại văn phòng phẩm. Rõ ràng, họ bày cho có thôi.

Bước vào rồi, tôi thấy người con gái để tóc thề, khuôn mặt trái soan, mắt to, hơi lạnh, khá nghiêm nghị. Tôi chới với, không biết nói gì! Bèn hỏi mua một lạng ô mai cam thảo và thú thật với cô bán hàng rằng, ông sĩ quan, chỉ huy tôi, đố tôi vào, nói chuyện với cô…

Tôi nghĩ có thể cô bán hàng bất ngờ trước sự thật kia, nên đã mỉm cười, mời tôi ngồi xuống chiếc ghế duy nhất, bên ngoài tủ kính. Sau đấy, tôi im lặng, không biết nói gì thêm. Lát sau, tôi cầm bịch ô mai, đứng lên, xin kiếu, với lý do ông sếp chờ bên ngoài.

Tôi nhớ Huyền Châu cũng đứng dậy, nói là buổi sáng cô thường ra trông hàng cho mẹ. Mai mốt có dịp thì tôi cứ ghé vô, nếu thấy cô.

Hai tuần sau, tôi tình nguyện và lại được chọn làm sinh viên kiểm thực cho trường. Như lần trước, nhìn vào trong tiệm, thấy Huyền Châu sau quầy, tôi xin trung úy Sinh cho tôi ít phút… Ông gật đầu.

Lần này Huyền Châu vẫn gọi tôi bằng “ông” nhưng cho biết tên là Lê Huyền Châu, và kể có người anh ruột tên Lê Huyền Trang đang học ở Thủ Đức, cùng khóa với tôi. (Vì thế, sau này, tôi viết bài thơ “Tâm sự người lên mặt trận” đăng ở tạp chí Văn, đề tặng Lê Huyền Trang.)

Tuy câu chuyện trao đổi với nhau rất ít, nhưng sau lần đó, mỗi khi được về phép, tôi lại ghé tiệm. Lần nào tôi cũng chỉ mua đúng một lạng ô mai cam thảo cho có (dù không ăn)

Trước khi mãn khóa, Huyền Châu có lên trường thăm tôi và ông anh. Lúc này chúng tôi đã gọi nhau bằng tên. Tôi bắt đầu làm thơ cho Huyền Châu; gửi trang thơ báo VNTP do ông Như Trị phụ trách. Trong số những bài thơ được chọn đăng, có một bài tôi lấy tên là “Bài Huyền Châu”. Báo đăng xong, tôi mua một số báo, mang tặng Huyền Châu. Huyền Châu có vẻ cảm động lắm.

Ra trường thay vì phải đi đơn vị ngay, tôi chọn học một khóa Căn bản CTTL. Trường ở Saigon, nên tôi lại có cơ hội gặp Huyền Châu.

Du Tử Lê thời trẻ

Giữa lúc mọi chuyên diễn ra một cách êm đềm, trong vòng lễ giáo (một cái cầm tay cũng chưa có), bỗng một buổi sáng khi tôi đang ngồi nói chuyện với Huyền Châu (cách nhau cái tủ kính) thì thình lình, ba Huyền Châu từ trong nhà đi ra. Ông không nói một lời nào với Huyền Châu hay với tôi, hầm hầm vung tay tát Huyền Châu.

Tôi biết thời gian đó, tinh thần kỳ thị Bắc – Nam còn rất nặng nề. Nhưng tôi vẫn ngỡ ngàng, choáng váng. Tôi không hề dự trù việc ba Huyền Châu, em ruột của học giả Lê Ngọc Trụ lại có thể hành động như vậy! Tôi cho cơn giận dữ ấy, thực sự nhắm vào tôi, chứ không phải Huyền Châu.

Cảm thấy tự ái của mình bị tổn thương trầm trọng, không kịp suy nghĩ, tôi xô ghế, đứng lên nói với ông rằng, chính tôi mới là người có lỗi, không phải Huyền Châu.

Vì thế:

“Cháu xin hứa với bác sẽ không bao giờ trở lại căn nhà này nữa!”

Nói xong, tôi quầy quả đi ngay, không nhìn Huyền Châu!

Hai tháng sau, mãn khóa học, tôi và số bạn cùng khóa bị gửi đi thực tập ở quận Ninh Hòa, Nha Trang. Sau cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, chúng tôi được về lại Saigon. Tôi may mắn được chọn làm việc ở Saigon. Thời gian này, tuy vẫn nghĩ tới Huyền Châu, nhưng tôi đã nguôi ngoai niềm đau và, nỗi nhớ. Tôi đinh ninh Huyền Châu với nếp khép kín, nghiêm túc, sẽ không có chuyện muốn tiếp tục liên hệ với tôi!

Nhiều năm sau, khi đã có gia đình, qua người bạn văn nghệ của tôi nhà thơ Tuệ Mai, tôi mới biết, thời gian tôi ở Ninh Hòa, Huyền Châu đã tìm tới căn nhà số 1029, đường Trần Hưng Đạo của ông anh tôi, tìm tôi.

Tôi không biết có phải vì quá thật thà, nên trước khi hỏi xin địa chỉ của tôi ở nơi thực tập, Huyền Châu đã khai hết chuyện lẽ ra nên giấu đi của hai đứa, với anh Q. tôi. Có dễ vì thế, anh tôi từ chối khéo với lý do, gia đình chưa có địa chỉ của tôi. Ông nói, chừng nào tôi viết thư về thì ông sẽ đưa địa chỉ tôi cho Huyền Châu. Tôi nói ông anh tôi từ chối khéo vì suốt thời gian hơn nửa năm ở Ninh Hòa, tôi vẫn thường xuyên viết thư cho mẹ tôi!…

Sau khi biết chuyện, tôi hỏi lại anh Q. tôi chuyện đó. Anh tôi xác nhận Huyền Châu có đến nhà. Nhưng ông nghĩ hai gia đình thuộc hai nguồn gốc khác nhau, sẽ rất khó hòa hợp. Chưa kể khi đó, tôi còn quá trẻ…

Qua thu xếp của nhà thơ Tuệ Mai, chúng tôi được gặp lại nhau nhiều lần ở nhà riêng của nữ sĩ, ở đường Trần Hoàng Quân thuộc Chợ Lớn… Nhưng không hiểu tại sao, suốt mấy năm thời gian gặp với nhau, tôi không hề hỏi Huyền Châu có biết bài thơ tôi viết cho Châu, đã được chuyển thể thành ca khúc? Tôi cũng thực sự không nắm vững, lý do tại sao, chúng tôi lại mất hẳn liên lạc với nhau, ít ngày trước biến cố 30 tháng 4-1975 xẩy tới? Mặc dù khi đó cả hai vẫn ở Saigon.

Hôm nay, nhiều năm sau khi Huyền Châu không còn nữa, đôi khi tôi tự hỏi, nếu tôi chọn một nhan đề khác cho ca khúc “Trên Ngọn Tình Sầu” thì liệu định mệnh của cuộc tình chúng tôi có đổi khác? Hay, như tôi hằng nghĩ, một sáng tác, dù thơ hay nhạc, khi đã ra khỏi tác giả, nó sẽ sống đời riêng của nó mà, không tác giả nào có thể ảnh hưởng?!?

Du Tử Lê

(Garden Grove, Jan. 2019)

Bài thơ:

67 KHÚC THÊM CHO HUYỀN CHÂU

hạnh phúc tôi từ những ngày con nước lớn
trời mưa mau tay vuốt mặt khôn cùng
bầy sẻ cũ hom hem chiều ngói xám
trời xanh xao chân nhỏ cũng không về

cây mộng nở từng ngón tay lá nõn
nôi tương tư cỏ ấm thịt da người
tôi hiu hắt từ mắt em ngát lạnh
môi thâm khô từ thuở định xin hôn
ngày tháng hạ khi không mà trở rét

em khi không mà trở mặt điêu ngoa
tay trông ngóng hương đưa mùi tóc mạ
ngọ me xa thở ký ức rì rào
chiều qua đó chân ai cìn ríu rít
lời ai say cho trời đất lại gần

kỷ niệm tôi từ những ngày vỡ tiếng
nhẩn nha gom từng cọng thiết tha rơi
con dế nhỏ lớn lên đằm tiếng hát
khi đêm về ru giọng đớn đau hơn

cây niên thiếu cũng thui mầm trong sáng
lá oan khiên lả tả mái hiên người
tôi èo uột từ những ngày cả gió
Con dế buồn тự тử giữa đêm sương

bầy sẻ cũ cũng qua đời lặng lẽ
ngọn me xưa già khọm tiếc thương hờ
em ở đó bờ sông còn ẩm cát
con sóng tình vỗ mãi một âm quên.

1967


Nghe Tuấn Ngọc hát Trên Ngọn Tình Sầu

Bài hát

TRÊN NGỌN TÌNH SẦU

Hạnh phúc tôi hạnh phúc tôi
Từ những ngày con nước về
Ngoài trời mưa mau ngoài trời mưa mau
Tay vuốt mặt không cùng

Bầy sẻ cũ hom hem
Chiều mái xám rêu xanh
Trời êm cao chân nhỏ
Cũng không về trên dòng sông tội lỗi

Tôi nghe hắt hiu từ mắt em ngắt tạnh
Môi thâm khô từ thuở định hôn người
Ngày tháng hạ khi không mà trở rét
Giọt nắng vàng lung linh màu lạnh ngắt
Sao khi không người ngoảnh mặt kiêu sa

Chiều qua đó chân ai còn ríu rít âm thưa
Lời ai ru như mơ cho trời xuống thật gần
Người trông ngóng hương đưa mùi mái tóc đêm mưa
Nhẹ theo lá oan khiên lả tả mái hiên người

Tôi nghe hắt hiu từ mắt em ngắt tạnh
Con dế buồn тự тử giữa đêm sương
Bầy sẻ cũ cũng qua đời lặng lẽ
Em ở đó bờ sông còn ẩm cát
Con sóng tình vỗ mãi một âm quen

Du Tử Lê
Nguồn: dutule.com

Leave A Reply

Your email address will not be published.