Âm nhạc thời Vàng Son

Phân tích Tiếng hát Thanh Tuyền với góc nhìn nhạc thuật

0

Lâu nay người ta vẫn nghe nhạc vàng với một thói quen rất bình dân, cảm nhận nhạc vàng bằng giọng hát truyền cảm và nội dung bài hát gần gũi. Chưa ai phân tích giọng hát nhạc vàng với góc nhìn học thuật, vì có vẻ như thừa thải và không phù hợp nếu sử dụng kỹ thuật thanh nhạc để hát nhạc vàng.

Tuy nhiên, để lý giải vì sao các ca sĩ gạo gội hát nhạc vàng lại được yêu thích nhiều như vậy sau hàng nửa thế kỷ, và các ca sĩ này ở tuổi trên thất thập vẫn có thể đi hát được đón nhận nồng nhiệt như Chế Linh, Thanh Tuyền, Phương Dung… Bài viết này đã thử phân tích giọng hát Thanh Tuyền với góc nhìn nhạc thuật.

Trong băng nhạc Tiếng hát Thanh Tuyền phát hành trước 1975, người dẫn chuyện đã nói về Thanh Tuyền một cách đầy tự hào và xúc cảm: “Dòng máu này còn chảy trong tim, ân tình này chưa phai theo kỉ niệm, hơi thở này còn thì tiếng hát Thanh Tuyền còn mãi vang xa…” .

Lời tựa này tuy bay bổng và giàu tính ước lệ, nhưng đã truyền đạt rất đúng về sức nặng và tầm ảnh hưởng của tiếng hát Thanh Tuyền trong dòng chảy Nhạc Vàng nói riêng và nhạc Việt nói chung. Đây là tiếng hát vàng ròng, in đậm dấu ấn thời gian và đượm hồn dân tộc Việt Nam.

Tiếng hát vàng ròng của Bolero – niềm khát khao của nhiều ca sĩ ngày nay

Hầu hết khán giả nghe Nhạc Vàng đều ấn tượng đặc biệt với Thanh Tuyền và phải thừa nhận rằng, cô là tượng đài không thể thay thế của dòng nhạc này. Ấn tượng đầu tiên người ta cảm nhận được chính là âm sắc giọng đặc biệt của cô.

Thanh Tuyền sở hữu loại giọng full lirico soprano (nữ cao trữ tình đầy đặn) hiếm thấy ở Việt Nam, khác với đại đa số light lirico soprano (nữ cao trữ tình sáng mảnh như hầu hết các ca sĩ khác).

Full lirico soprano thường thấy ở phương Tây. Một số ca sĩ nổi tiếng sở hữu loại giọng này như: Celine Dion, Lara Fabian, Montserrat Caballe, Anna Netrebko… Loại giọng này ít thấy hơn ở châu Á và tập trung quanh vùng Trung Đông, Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc.

Tại Việt Nam, do đặc trưng thổ nhưỡng, nguồn gen và thể lực nên full lirico soprano hiếm xuất hiện hơn hẳn light lirico soprano.

Tính đến nay, các giọng full kiểu này không nhiều, khác với hằng hà sa số light lirico soprano như Thu Minh, Hà Trần, Hồ Quỳnh Hương, Như Quỳnh, Ngọc Lan, Thái Thanh, Bảo Thy, Khởi My…

Đặc trưng của full lirico soprano là âm sắc đẹp, ấm áp, đầy đặn, quãng trung và cận cao phát triển, nhưng vẫn lên được những nốt cao sáng rực. Nhờ lợi thế đó, ca sĩ sở hữu loại giọng này thường hát truyền cảm và có nội lực lớn hơn hẳn.

Nếu ai đã từng nghe Thanh Tuyền hát live trực tiếp, sẽ không khỏi bất ngờ trước nội lực giọng hát của bà. Dù hát Nhạc Vàng (dòng nhạc không đòi hỏi quá nhiều sự phô diễn), nhưng Thanh Tuyền vẫn khiến khán giả phải “choáng váng” thực sự trước âm lượng lớn và giọng hát xuyên thấu của mình.

Chỉ cần Thanh Tuyền mở miệng ra thôi cũng đủ áp đảo mọi ca sĩ hát chung với mình và lấp đầy toàn bộ khán phòng. Giọng hát của cô vô cùng chắc chắn, khỏe khoắn và nặng tính metalic (kim khí). Người nghe luôn có cảm giác, nếu Thanh Tuyền bung hết lực ra, sẽ chẳng kém cạnh gì Siu Black hay Thanh Lam, Mỹ Linh…

Giọng full lirico soprano bẩm sinh phú cho Thanh Tuyền quãng cận cao đanh dày, chắc khỏe vô cùng tận. Rất ít ca sĩ Việt Nam nào ở tuổi gần 70 vẫn có thể belt âm đóng /i/ tới tận C5 dày và nặng, nội lực lớn, với đầy đủ vibrato như Thanh Tuyền đã làm trong màn trình diễn ca khúc Chiều mưa biên giới tại Hà Nội hồi tháng 10 vừa qua.

Cô hát vững chãi như một tảng núi, sừng sững đến không thể quật ngã.

Cũng chính lợi thế của giọng full lirico soprano đã ban cho Thanh Tuyền phần quãng trung phát triển tới bất ngờ. Cô có thể nhả chữ và giữ nốt trên G4, G#4 vô cùng dày, chắc chắn và ẩn giấu phần nội lực không nhỏ trong đó. Điều này khác hẳn với các light lirico soprano khác (trừ Hà Trần).

Thật đáng tiếc vì dòng Nhạc Vàng đã hạn chế Thanh Tuyền ở âm khu trung này khi bó cô vào những bỏ nhỏ, luyến láy. Nếu Thanh Tuyền chuyển qua hát nhạc nhẹ theo lối của 4 Diva Việt, chắc chắn cô sẽ có cơ hội được bung hết sức mình trên nhiều trường đoạn, để hóa thành “con sư tử” khổng lồ.

Năng lực trong quãng giọng của Thanh Tuyền thuộc hàng đáng nể. Cô mixed cao rất tốt và thoải mái, có thể lên giọng thật tới C5, D5, Eb5 một cách dễ dàng. Nhưng đồng thời, cô còn xuống được nhiều nốt trầm chắc chắn, sâu và tối.

Rất khó để tìm được một giọng nữ cao Nhạc Vàng nào có thể xuống được F3 bằng chest voice với sức nặng như Thanh Tuyền trong ca khúc Kiếp nghèo. Cô cũng có thể hát nhiều đoạn trầm liên tiếp ở F3, F#3, G3, G#3 một cách thoải mái, nhả vào từng chữ mà không bị mờ.

Việc chuyển giọng liên tục trên các quãng từ cao xuống thấp, trải dài trong gần 2 quãng tám với sức nặng và chắc khỏe khi hát một ca khúc Bolero như Thanh Tuyền là điều cực kì khó nhằn, nếu không muốn nói là thách đố các ca sĩ nhạc vàng ngày nay.

Xét về ngũ cung, các giọng full lirico soprano khác thường thuộc hành thủy, hoặc thủy pha kim, mộc pha kim, nhưng Thanh Tuyền lại thuần kim chính cách. Chưa kể, kết cấu thanh quản và xoang mặt đặc biệt biệt giúp cô có được độ vang bẩm sinh trong giọng hát (tương tự Whitney Houston).

Chính vì vậy, giọng hát Thanh Tuyền khi lên cao như cá gặp nước, sang sảng và trong trẻo, hội tụ đủ tính chất vang, rền, nền, nảy. Nó sáng và vang như tiếng đại hồng chung, bay xa và nảy trong không gian như một thứ kim loại quý hiếm.

Nói cách khác, mỗi khi hát, Thanh Tuyền tạo ra thứ âm thanh tráng lệ giống vàng mười, dội vào tai người nghe sự choáng ngợp và hào quang kì diệu như được chiêm ngưỡng một kì quan nào đó.

Điều này được thể hiện rõ nhất khi Thanh Tuyền nhảy lên quãng mixed voice tầm B4 tới D5. Khi đó, trong tần số vibrato của cô nảy lên độ rung độc đáo, nổi bần bật và bay xa như đang tung ra những chuỗi ngọc trong không gian vậy.

Về màu sắc, có thể ví tiếng hát Thanh Tuyền với màu hoàng yến rực rỡ xôn xao trong ánh nắng chói lòa. Chính nhờ âm sắc tuyệt vời, sang sảng hiếm có đó mà Thanh Tuyền đã nổi bật hơn hẳn Hương Lan (cũng là một giọng hát giàu âm sắc) khi hát chung với nhau.

Để hợp với thị hiếu khán giả và thể hiện đúng chất Bolero, Thanh Tuyền thường dùng lối hát bạch thanh, nhốt sâu âm thanh vào cuống họng mỗi khi lên cao.

Cách hát này không đúng chuẩn thanh nhạc kinh điển. Nó khiến những nốt cao của cô tuy sáng rực rỡ nhưng hơi gắt và nhọn như mũi dao đâm toạc không gian. Vì lẽ đó, một số người cho rằng giọng Thanh Tuyền bị chua và không đẹp.

Tuy nhiên, trên thực tế, âm sắc giọng Thanh Tuyền lại rất đẹp vì có đủ độ ấm và đầy đặn nếu ngoại trừ những lúc sử dụng bạch thanh để lên cao.

Chẳng hạn, khi dùng falsetto (giọng gió) trên airy voice (âm hơi) để bỏ nhỏ, cô tạo được những quãng âm vô cùng mượt mà và mềm dịu, ngọt như mật, êm như nhung. Có thể thấy rõ điều này qua ca khúc Đà Lạt hoàng hôn.

Với những tiềm năng quý báu như vậy, giọng hát Thanh Tuyền thực sự là niềm khao khát của nhiều ca sĩ ngày nay, kể cả Nhạc Vàng và ngoài Nhạc Vàng. Thẳng thắn mà nói, nếu Thanh Tuyền được rèn luyện được rèn luyện theo chuẩn mực thanh nhạc cổ điển Tây phương, cô sẽ vô địch trong các giọng nữ cao ở Việt Nam.

Lối hát góp phần định hình Nhạc Vàng

Thanh Tuyền không phải người khai phá Nhạc Vàng. Trước cô đã có nhiều danh ca khác như Duy Khánh, Trúc Mai, Hà Thanh, Chế Linh, Phương Dung, Thanh Thúy, Hoàng Oanh…

Tuy nhiên, không thể phủ nhận, lối hát đặc biệt và đậm chất kĩ thuật của Thanh Tuyền đã góp phần không nhỏ vào việc định hình phong cách Nhạc Vàng đương đại.

Thanh Tuyền tận dụng triệt để các lối hát truyền thống của dân ca vùng miền như nảy tiếng, đổ hột, vọng cổ câu vô và biến tấu, tinh giản đi cho phù hợp với Nhạc Vàng một cách hài hòa nhất, chứ không chỉ đơn giản là luyến láy theo nhịp điệu.

Trong thanh nhạc, người ta gọi đây là sự thêm thắt, trang trí cho nốt nhạc lộng lẫy và đa dạng hơn.

Mục đích của việc sử dụng các kĩ thuật này là thổi điệu hồn dân tộc đượm hơn vào Nhạc Vàng, biến nó từ ngoại lai thành thể thức nhạc riêng của người Việt, dân dã và đi sâu từ nguồn cội.

Bởi vậy, chỉ cần nghe Thanh Tuyền ca Nhạc Vàng, người ta đã thấy mở ra cả một không gian miền quê Nam Bộ thôn dã. Không những vậy, khán giả còn tìm thấy âm hưởng của biết bao loại dân ca trải khắp ba miền đất nước. Trong đó có bóng dáng của quan họ, ả đào, ca Huế, vọng cổ…

Thanh Tuyền chọn cho mình cách hát trễ nải, nỉ non và mùi mẫn, ngọt lịm. Độ ngọt và mùi cô đưa vào bài hát thường nhiều hơn mức thông thường, đôi khi dư dả. Chính vì thế, cô thường bị xem là điển hình của lối hát “sến”.

Nhưng Thanh Tuyền không hề bận tâm về điều đó. Cô từng nói: “Trong nghệ thuật, việc quan trọng là khán giả tiếp nhận tiếng hát của mình như thế nào, và mỗi dòng nhạc đều có những tầng lớp khán giả khác nhau, nên sến hay không sến, tôi đều không quan tâm”.

Quả thực, Thanh Tuyền có sến, nhưng cái sến của cô không hề cứng nhắc, gượng ép, làm cho cố như nhiều ca sĩ sau này, mà hoàn toàn tự nhiên, mùi mẫn, đa sầu đa cảm. Chính lối hát này đã trở thành phần cơ bản của Nhạc Vàng.

Giống như Thái Thanh, tiếng hát Thanh Tuyền không dễ tiếp nhận, vì nó quá “mùi”, quá “cảm”, ai mới nghe sẽ cảm thấy hơi khó chịu vì chất bi cảm quá lớn của nó.

Nhưng nếu đã nghe quen, người nghe sẽ bị nghiện tiếng hát ấy, nghiện chất mùi mẫn ấy, không dứt ra được. Hai tiếng hát này hệt như một quả sầu riêng, mùi rất nồng, bay rất xa và rất đậm, người không quen thì không thích, nhưng đã quen thì có đắt mấy cũng muốn mua về để thưởng thức cho đặng.

Nhược điểm cố hữu của Thanh Tuyền là hát không rõ chữ và hay bị bóp méo âm tiết. Chẳng hạn, /ơi/ thành /ươi/, /âu/ thành /uâu/, /iên/ thành /in/, /iêu/ thành /iu/… Điều này khiến nhiều người nghe cảm thấy hơi khó chịu, giống như nghe một người hát ngọng.

Tuy nhiên, có thể đó là lối hát riêng của cô và nếu đã nghe quen rồi thì sẽ vẫn thấy hay.

Thanh Tuyền: 70 tuổi vẫn hát nốt cao rực rỡ, căng tràn như muốn xuyên thủng khán phòng (P2)

Không chỉ sở hữu giọng hát quý hiếm bậc nhất, Thanh Tuyền còn đạt tới trình độ kĩ thuật bậc thầy của Bolero.

Thanh Tuyền từng nói: “Tôi luôn hát như thể ngày mai sẽ không được hát nữa. Tôi muốn hát đến hơi thở cuối cùng và nếu còn được hát nữa thì tôi vẫn cứ hát”.

Kĩ thuật hát Bolero đạt tới ngưỡng bậc thầy – ít ca sĩ nào sánh kịp

Thanh Tuyền được rèn giũa từ nhỏ bởi nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông và cặp ca sĩ – nhạc sĩ Mạnh Phát, Minh Diệu. Vì vậy, đã sở hữu được những kĩ thuật bậc thầy của dòng nhạc Nhạc Vàng, có thể xem là tôn chỉ cho nhiều thế hệ ca sĩ sau này.

Việc hỗ trợ hơi thở tốt từ cơ hoành và buồng phổi lớn giúp Thanh Tuyền có được cột hơi vững chắc.

Cô có thể giữ hơi hàng chục giây với đủ các luyến láy, chuyển giọng mà vẫn đều trằn trặn từ đầu tới cuối, không có dấu hiệu đứt khúc hay đuối dần. Nhờ đó, legato của Thanh Tuyền khá đẹp, mềm mại và liền mạch, trôi chảy như một dòng suối.

Nhờ kiểm soát hơi thở tốt, Thanh Tuyền có thể sử dụng twang để lên cao. Đây là kĩ thuật đặc biệt của các ca sĩ hát nhạc Country và Folk (trên khắp thế giới), đã được Thanh Tuyền lĩnh hội.

Theo đó, khi hát nốt cao, cô thường thu hẹp khoảng không gian phía sau dây thanh đới và bật mạnh các phần tử khí lên vùng đỉnh trán để bắn thẳng ra ngoài.

Bởi vậy, tiếng hát Thanh Tuyền khi lên cao thường bị bẹt và hơi mỏng đi, nhưng vẫn có lực mạnh, độ vang lớn và nghe khá thoải mái, tốn ít sức.

Người nghe có cảm giác như Thanh Tuyền chỉ cần mở miệng ra là đã chạm được tới nốt cao đó mà không cần chút gắng gượng, lên gân nào. Đây chính là cách hát kinh điển của Bolero học thuật.

Chẳng hạn, trong ca khúc Nỗi buồn hoa phượng, Thanh Tuyền bắt tông treo cao hơn hẳn những ca sĩ khác, và liên tục giữ ở độ cao như vậy xuyên suốt toàn bài.

Rất khó để một ca sĩ khác cover lại với đúng tông giọng đó mà vẫn thoải mái, giữ được sự ngọt ngào như vậy.

Trong hầu hết các ca khúc mà Thanh Tuyền thể hiện đều có những đoạn mixed cao tới B4, C5, thậm chí là D5 băng giọng thật, với lực âm lớn mà không hề bị cao thanh quản hay strain (căng thẳng).

Với đà hát đó, nếu không bị bó buộc bởi khuôn nhạc vàng, cô hoàn toàn có thể mixed voice (hát giọng pha) tới F5 ngang ngửa Thu Minh, Hồ Quỳnh Hương.

Đó cũng là lí do vì sao Thanh Tuyền giữ giọng rất tốt. Ở tuổi gần 70, cô vẫn liên tục hát tông cao với nội lực căng tràn, chất giọng đanh quánh, khiến nhiều ca sĩ trẻ phải ngả mũ thán phục.

Kĩ năng passagio (chuyển giọng) và điều khiển âm lượng của Thanh Tuyền cũng rất tốt. Cô có thể bỏ nhỏ một cách nhẹ nhàng, mượt mà khi đang căng tràn nốt cao đầy nội lực chỉ trong một làn hơi, hay đổi tông liên tục từ cao xuống thấp, từ thấp lên cao với âm sắc đối lập nhau mà không gặp sự cản trở nào.

Kĩ năng chuyển giọng giữa giọng thật và giả thanh của Thanh Tuyền cũng khá linh hoạt. Thông thường, cô có thể đang căng tràn giọng thật trên cao đổ xuống airy voice tà tà với độ soft lớn, tạo độ ngọt lịm như mật.

Tuy nhiên, ở một số ca khúc, cô lại đẩy giả thanh lên tận F5, G5, G#5 và A5 mà vẫn đầy đặn, liền mạch với nhạc phổ, không hề bị chua, gắt hay rơi vào sự phô diễn.

Chưa kể, ở đa số các bài hát Thanh Tuyền thể hiện, cô đều chuyển giọng qua lại liên tục giữa chest voice, light mixed và falsetto ở từng câu từng chữ. Nó liền mạch tới mức, nghe qua sẽ rất khó để nhận ra có sự chuyển giọng giữa các từ.

Nếu nghĩ rằng ca sĩ Nhạc Vàng thường hát giản đơn thì đó không phải là Thanh Tuyền. Cô thường sử dụng nhiều kĩ thuật trong một ca khúc, như nảy hột, nảy chữ và thậm chí là cả yodeling hay run/riff (những kĩ thuật mang tính linh hoạt).

Điểm đặc biệt là các kĩ thuật này đều được Thanh Tuyền sử dụng để tăng độ mùi, độ ngọt cho bài hát nên xuất hiện khá kín, không để lộ sự phô diễn. Đó mới chính là sự tinh tế của một ca sĩ Nhạc Vàng.

Điển hình là những cú trills của cô trong ca khúc Giờ này anh ở đâu hay hàng loạt đoạn yodeling ẩn giấu trong Vọng gác đêm sương.

Cần so sánh ca khúc Biển tình qua tiếng hát Thanh Tuyền và Lệ Quyên, khán giả sẽ thấy được sự khác biệt giữa việc dụng công kĩ thuật trong từng câu chữ với lối hát bình thường hóa Nhạc Vàng ngày nay.

Niềm đam mê âm nhạc giúp tiếng hát tồn tại lâu bền

So với những ca sĩ cùng thời, Thanh Tuyền được xem là có phong độ lâu và giữ giọng tốt nhất. Chẳng ai có thể tin nổi một ca sĩ ở độ tuổi 70 tuổi mà mỗi lần cất giọng lên đều sáng chói, căng tràn đầy sức lực như cô.

Những nốt cao rực rỡ, ngồn ngộn như muốn xuyên thủng khán phòng là điều hiếm thấy ở một ca sĩ ở độ tuổi của Thanh Tuyền.

Người ta tưởng rằng, Thanh Tuyền phải có một cuộc sống viên mãn lắm nên mới giữ giọng được như vậy. Nhưng trên thực tế, đời sống riêng của cô gặp khá nhiều trắc trở .

Yếu tố cốt lõi giúp Thanh Tuyền giữ giọng lâu bền như vậy chính là niềm đam mê ca hát của cô. Thanh Tuyền từng nói: “Tôi luôn hát như thể ngày mai sẽ không được hát nữa. Tôi muốn hát đến hơi thở cuối cùng và nếu còn được hát nữa thì tôi vẫn cứ hát”.

Niềm đam mê ca hát ấy đã luôn giữ Thanh Tuyền đứng vững trên sân khấu suốt nhiều năm qua và không hề suy chuyển theo thời gian.

Nhìn Thanh Tuyền đứng trên sân khấu, ai cũng thấy sự tươi trẻ, căng tràn sức sống và ngọn lửa đam mê cháy trong cô.

Cô hát như đang khiêu vũ, cơ thể uyển chuyển, dẻo dai, bờ vai lúc nào cũng hướng về phía trước và hai tay thì luôn đưa ra.

Những hành động này cho thấy cô luôn khát khao hát và muốn được bung hết mình ra, nếu kìm lại sẽ rất khó chịu.

Với những tài năng và cống hiến trên, Thanh Tuyền xứng đáng là diva của dòng nhạc vàng Việt Nam. Tiếng hát cực phẩm của cô luôn là niềm khao khát của nhiều thế hệ đàn em sau này.

Chú thích thuật ngữ thanh nhạc:

– Note trầm: C3/C#3, D3/D#3, E3, F3/F#3, G3/G#3, A3/A#3, B3.

– Note trung: C4/C#4, D4/D#4, E4, F4/F#4, G4/G#4, A4/A#4, B4.

– Note cao: C5/C#5, D5/D#5, E5, F5/F#5, G5/G#5, A5/A#5, B5.

– Note rất cao: C6/C#6, D6/D#6, F6/F#6, G6/G#6, A6/A#6, B6.

– Mixed voice: Hát pha giữa chest voice và head voice. Trong mixed voice có full mixed (hát pha toàn giọng) và light mixed (hát pha nửa giọng).

– Vibrato: Ngân rung.

– Piano: Kĩ thuật hát nhỏ giọng vừa phải.

– Airy voice: Âm hơi.

– Full lirico soprano: Nữ cao đầy đặn.

– Falsetto: Giọng gió.

– Head voice: Giọng đầu.

– Chest voice: Giọng ngực.

– Support: Hỗ trợ các vị trí âm thanh và kĩ thuật trong ca hát.

– Strain: Hát căng thẳng.

– Cadenza: Biến tấu hoa mĩ không có trong tổng phổ gốc.

– Staccato: Hát ngắt.

– Trillo: Rung láy.

– Legato: Hát liền giọng.

– Pianissimo: Vuốt nhỏ tiếng.

– Voice project: Phóng âm.

– Diminuendo: Hát nhỏ đột ngột.

– Mask resonance: Cộng hưởng độ vang ở vùng mặt.

– Head resonance: Cộng hưởng độ vang ở vùng đầu trán.

– Throaty: Hát dính cổ

– High larynx: Cao thanh quản.

– Melisma: Luyến láy trên nhiều cao độ khác nhau (thường là từ cao xuống thấp).

– Run/riff: Chạy note phức tạp.

– Glissando: Hát vuốt tốc độ nhanh.

– Phân loại giọng theo ngũ cung: Giọng thổ, giọng thủy, giọng hỏa, giọng mộc, giọng kim.

Theo Soha

Leave A Reply

Your email address will not be published.