Âm nhạc thời Vàng Son

Nhạc sĩ Phạm Duy và câu chuyện Nhớ Người Ra Đi: “Ai có nghe tiếng hát hành quân xa…”

0

“Trong đợt lưu diễn ở miền Cao-Bắc-Lạng, một buổi nọ, sau ít màn trình diễn ca-vũ-kịch cho đồng bào thưởng thức, một ‘bà mẹ quê’ bước ra xin được hát tặng anh chị em trong đoàn văn nghệ một bài hát cổ truyền. Chúng tôi vỗ tay hoan nghênh. Bà mẹ đằng hắng, lấy giọng, rồi hát:

Ai có nghe tiếng hát hành quân xa
mà không nhớ thương người mẹ già…

Tôi đứng lặng người. Đấy là bài “Nhớ Người Ra Đi” của tôi. Nhưng bây giờ nó không còn là… của tôi nữa. Nó đã là của quần chúng mất rồi! Tôi cảm động quá, muốn khóc òa lên…”


Nghe bài hát Nhớ Người Ra Đi – tiếng hát Thái Thanh

Người kể câu chuyện trên chính là nhạc sĩ Phạm Duy. Câu chuyện làm ông “cảm động quá, muốn khóc òa lên” ấy xảy ra vào năm 1950, năm Phạm Duy 29 tuổi. Ông đã ghi lại những dòng cảm xúc ấy trong tập hồi ký của mình (Hồi Ký Phạm Duy–Tập II, Chương 17) vào năm 1989, khi ông 68 tuổi.

Nhưng câu chuyện vẫn chưa kết thúc.

Hơn 50 năm sau kỷ niệm khó quên ấy, trong một chuyến về thăm quê hương vào năm 2002, nhạc sĩ Phạm Duy được một sử gia nổi tiếng là Lê Văn Lan tặng cho món quà nhỏ, nhưng có giá trị rất lớn đối với ông: một video tape ghi lại phóng sự về một bà cụ vừa tròn 100 tuổi ở một làng quê hẻo lánh (thôn Lập Chí, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn). Bà cụ có hai người con trai đã hy sinh trong hai cuộc chiến tranh.

Trong đoạn phóng sự ngắn đó, cụ Nguyễn Thị Ngoan, tên bà cụ, bỗng cất tiếng hát gần như trọn bài “Nhớ Người Ra Đi” của nhạc sĩ Phạm Duy với lời nguyên bản, chính xác đến từng câu, từng chữ. Hát dứt bài dân ca kháng chiến ấy, bà cụ còn đọc lại với giọng ngân nga một câu hát trong bài:

“Cầu cho đứa con trai, ở đâu đó con ơi, được vui…” – Rồi nói với giọng run run: “Cứ mỗi lần nhớ thương con là tôi lại hát cái bài ấy, lòng thấy nguôi ngoai, cũng được an ủi phần nào.”

Vẫn là bài nhạc kháng chiến ấy nhưng đã có một khoảng cách thật là dài về thời gian. Người viết bài hát này đã rời vùng kháng chiến để vào Nam (Phạm Duy rời miền Bắc năm 1951, năm ông 30 tuổi), thế nhưng bài hát, sau hơn 50 năm, vẫn còn ở lại. Bài hát vẫn sống, vẫn như có một linh hồn.

Cả hai câu chuyện đều là chuyện thực. Chuyện thứ nhất do chính người trong cuộc kể lại. Chuyện thứ hai, chuyện “người thật, việc thật”, được thu hình thu âm đầy đủ, rõ ràng. Người hát bài hát ấy không phải là ca sĩ trẻ đẹp, không có giọng trong trẻo, ngọt ngào, mà là một bà mẹ quê, bà mẹ chiến sĩ già lão. Bà “Mẹ Việt Nam” ấy đã hát bằng giọng nghẹn ngào và bằng trái tim thổn thức của mình.

“Khi xem khúc phim này, tôi… quá cảm động!” – nhạc sĩ Phạm Duy nói trong nỗi xúc động đến nghẹn lời – “Một bà cụ trăm tuổi đã thuộc và giữ mãi trong lòng bà bài hát của tôi trong suốt bao nhiêu năm. Quả thực không có phần thưởng nào quý báu hơn, làm cho tôi vui sướng hơn.”

Theo tôi, không chỉ là “phần thưởng quý báu” nhất đối với Phạm Duy, mặc dầu ông không hề nói ra, tôi tin rằng đấy còn là một trong những động lực mạnh mẽ nhất thôi thúc ông đi tới quyết định “trở về mái nhà xưa”, trở về thăm lại một phần đời ông còn gửi lại nơi chốn ấy. Trở về với những người còn yêu, còn nhớ, còn nhắc tên ông, còn hát vu vơ một, hai câu hát của ông một thời nào xa lắc xa lơ, tưởng như đã chìm vào quên lãng sau bao mùa tang thương dâu bể. Trở về với những “bà mẹ quê”, với những đóa hoa không phải chỉ “thấm thoát mười năm nhớ anh vắng xa” mà gấp nhiều lần những tháng năm biền biệt. Tất cả, đã đánh thức ông, như tiếng còi tàu ngân nga trong trí tưởng.


Nghe bài hát Nhớ Người Ra Đi – tiếng hát Duy Khánh, phụ họa: Thanh Tuyền, Bạch Quyên

Phạm Duy, người ta có thể yêu hay ghét ông, ca ngợi hay chê trách ông. “Mai sau dù có bao giờ”, người ta có thể quên ông nhưng khó mà quên được, khó mà ngoảnh mặt quay lưng đuợc với những bài hát như thế. Những bài hát vẫn cứ “sống” mãi, vẫn cứ “nhớ người ra đi”. Những bài hát, nói như ông, “đã là của quần chúng mất rồi”.

Có người hỏi Phạm Duy, “Trong nhạc kháng chiến có những bài ‘rằng hay thì thật là hay’ nhưng nghe sao… buồn quá! Nhạc sĩ viết làm gì ‘nỗi buồn chiến tranh’ ấy?” Ông trả lời, “Như cuộc sống có hai mặt, thành tựu của kháng chiến cũng có vinh quang, có khổ nhục. Tôi muốn ca ngợi cả hai mặt ấy.”

Tôi nghĩ, chính vì từng để lòng mình nghiêng xuống những khổ đau, những hy sinh của cả một dân tộc, chính vì tính nhân bản thể hiện rõ nét trong từng lời ca tiếng hát ấy, mà mãi đến nay, sau bao nhiêu năm, những bài nhạc viết từ thời kháng chiến như “Nhớ Người Ra Đi”, như “Bà Mẹ Gio Linh”, như “Nhớ Người Thương Binh”, như “Chiến Sĩ Vô Danh”… vẫn còn được nghe, được hát, vẫn còn làm dậy lên những cảm xúc bi thương lẫn hào hùng.

“Lần nào hát bài này tôi cũng khóc” – Phạm Duy dẫn lời ca sĩ Thái Thanh mỗi lần hát dứt bài “Bà Mẹ Gio Linh”. Thực ra, không phải chỉ Thái Thanh và cũng không phải chỉ “Bà Mẹ Gio Linh”, nhiều bài dân ca kháng chiến khác của Phạm Duy cũng làm người nghe chảy nước mắt.

Thời kháng chiến, đó là tuổi trẻ Phạm Duy. Dẫu có hay dở, tốt xấu thế nào, kháng chiến ca vẫn là chặng đường thứ nhất của “hành trình âm nhạc Phạm Duy”, vẫn là mối tình đầu tiên của một đời âm nhạc Phạm Duy (sau “khúc dạo đầu” là “Cô Hái Mơ”, năm 1942, một bài… tình ca).

Tình đầu làm sao quên. Tình đầu vẫn để lại nhiều nuối tiếc. Mối tình ấy vẫn cứ âm thầm theo chân ông suốt một đời, cho dù “con đường tình ta đi” của ông có đến trăm ngàn lối, cho dù ông có đi đến tận cuối đường.

Trong “Đêm nhạc Phạm Duy” đầu tiên diễn ra trên đất nước mà ông đã xa lìa gần ba mươi năm, nghe lại những bài nhạc của một mùa kháng chiến cũ cất lên từ những giọng hát của một thế hệ ca sĩ mới, trẻ trung, đầy sức sống, nhạc sĩ Phạm Duy nghĩ gì? Ông có gặp lại tuổi trẻ của ông, gặp lại chàng trai “trong tim thì sôi máu, khóe mắt có trăng sao” của những năm sống sôi nổi, yêu thiết tha?

Sau chiến tranh, tuổi trẻ vẫn hát tình ca. Hơn thế nữa, vẫn hát tình ca quê hương, vẫn hát dân ca, kháng chiến ca. Khi mà tuổi trẻ Việt Nam còn muốn nghe, muốn hát và còn biết rung cảm vì những câu hát như là “Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời…/ Tôi yêu biết bao người, Lý, Lê, Trần và còn ai nữa / Những anh hùng của thời xa xưa, những anh hùng của một ngày mai…”, ta có thể tin rằng ta gặp được những tâm hồn hướng thiện, những con người yêu cái đẹp, yêu đất nước và tự hào về lịch sử dân tộc.

Nghe những bài dân ca, kháng chiến ca ấy, lớp người trẻ lớn lên sau chiến tranh sẽ hiểu được rằng đất nước đã có những trang sử như thế, đã có một thời kỳ như thế, sẽ hiểu được rằng vì sao “mẹ quê” lại “vất vả trăm chiều”, vì sao lại “nửa đêm thanh vắng không một bóng trai”, vì sao lại “có người bừa thay trâu cày”…

Nghe những bài dân ca, kháng chiến ca ấy, lớp người trẻ lớn lên sau chiến tranh cũng sẽ học được lòng yêu nước và cũng hiểu được cái giá của độc lập, của tự do (có lắm khi phải trả bằng máu và nước mắt), của những hạnh phúc thật đơn sơ, thật bình dị, như “vui vì nồi cơm ngô đầy” hay “mơ thấy bên lề cuộc đời, áo dài đùa trong tiếng cười”…

Nghe lại những dân ca, những kháng chiến ca, những tình ca quê hương của Phạm Duy mới hiểu được tại sao người ta nói ông để lại một “gia tài âm nhạc” đồ sộ và quý giá cho đất nước, cho dân tộc. “Kháng chiến ca”, “dân ca” và “tình ca quê hương” của Phạm Duy, ba mảng ấy thật khó mà tách rời nhau được. Ba mảng ấy kết hợp thành một “bộ ba”, thành “Tình Nước”.

“Cuộc đời là một chuỗi những tai nạn lịch sử”, tôi thích câu nói ấy của Phạm Duy, con người từng bao phen khóc cười theo mệnh nước nổi trôi. “Không ai tránh được đâu” – Ông nói thêm – “tất cả chỉ là can đảm để rũ sạch quá khứ.”

Phạm Duy, ông đã rũ sạch quá khứ. Nhưng chắc phải là quá khứ nào chứ không phải quá khứ mà ông vẫn muốn “xin đi lại từ đầu”. Chắc không phải là quá khứ trong bài hát “Kỷ Niệm” ấy và cũng không phải là quá khứ trong những bài nhạc kháng chiến ấy. Làm sao mà quên được, vì mọi người vẫn muốn nghe ông kể lại, như vẫn muốn nghe lại những bài nhạc cũ mà lúc nào cũng “mới” ấy. Tôi đã hình dung, mọi người xúm xít, quây quần bên ông để nghe “trong bếp vui anh nói chuyện nghe…”, để nghe ông kể chuyện đời mình, và nghe những nỗi niềm, những tâm sự “đường xa lắm khi nương hồn về quê”.

Một người như Phạm Duy, tôi hiểu, làm sao có thể sống bên ngoài đất nước, làm sao có thể sống xa lìa quê hương! Tôi cũng hiểu được vì sao những văn nghệ sĩ lưu vong, vào buổi hoàng hôn của đời người vẫn muốn quay về lại đất nước mình, nơi từ đó ra đi, để sống những năm cuối đời và để chết trên quê hương mình, cho dù “chốn quê hương” không hẳn lúc nào cũng “là đẹp hơn cả”.

Người ta không thể chọn nơi để sinh ra, nhưng có thể chọn nơi để chết. Như Phạm Duy, như cánh chim đã bay một vòng bay quá dài qua bao mùa giông tố của lịch sử dân tộc, như lữ khách đã đi tới gần cuối đường cuộc “hành trình âm nhạc” dài đến hơn nửa thế kỷ, sau cùng ông đã quay về miền đất mà ông đã viết nên bài “Tình Ca”. Về lại, để yêu thêm một lần nữa mối tình đầu kháng chiến của ông. Về lại như “người tình già”, tóc đã trắng như bông nhưng trái tim thì vẫn nguyên vẹn là trái tim chàng trai trẻ Phạm Duy, đắm say và sôi nổi, của một mùa nào kháng chiến.

Phạm Duy, tôi hiểu được vì sao ông chọn về để sống và chết trên quê hương.

Nguồn: Lê Hữu (trích “Kháng chiến ca, mối tình đầu của Phạm Duy”) – phamduy.com

Leave A Reply

Your email address will not be published.