Âm nhạc thời Vàng Son

Lật lại một tập ảnh của Sài Gòn năm 1972

0

Nhìn lại bức ảnh trên vào thời điểm bức hình được chụp, Saigon là một thành phố bình yên, như tất cả những thành phố bình yên trên thế giới. Đập vào mắt là những thiếu nữ, và phụ nữ đến chợ mua sắm hoặc đã mua sắm xong ngồi xích lô trở về. Đây là những sinh hoạt bình thường của những người dân bình thường trong một phố thị thanh bình. Cũng có lẽ là một ngày bình thường như những ngày bình thường trong tháng trong năm. Những chiếc taxi đang lăn những vòng thong thả và những chiếc khác đậu nhàn hạ, thảnh thơi chờ khách.

Cái khoảnh khắc bình yên của Saigon gần nửa thế kỷ trước được ghi lại sống động với bốn phụ nữ ngay trung tâm bức hình, với mode Mini Jupe đang thời thượng vào thời điểm ấy. “Mini” đang là một “theme”, một “chủ đề” của thời trang ở Saigon. Hai cô gái quay lưng lại đều diện váy ngắn, dáng mảnh dẻ, thanh lịch. Không hiện diện trong bức hình trên là xe đạp mini, là những chiếc xe đạp có vòng bánh xe nhỏ, dáng thấp, rất được các nữ sinh ưa chuộng vào lúc ấy.

Đây là một con đường bên hông chợ Bến Thành – đường Phan Bội Châu, phía bên kia hông chợ là đường Phan Châu Trinh. Hai nhà chí sĩ cùng một lòng yêu nước nhưng chí hướng và phương châm hành động thì khác hoặc – có thể nói –  trái ngược hẳn nhau, là những người đã khởi xướng phong trào Đông Du và Duy Tân.

Hai

Đường Nguyễn Huệ, rạp ciné Rex và phim Love Story với Ali McGraw & Ryan O’Neal – Ảnh Raymond Depardon 1972

Cũng một bức hình khác cùng thời gian được chụp ở cách con đường Phan Bội Châu chừng vài trăm thước, một sinh hoạt khác cúa Saigon cũng được ghi lại thật sống động với rạp Rex đang chiếu cuốn phim Love Story với kịch bản được chuyển thể từ cuốn sách best seller cùng tên của Eric Segal. Sản phẩm này đến từ bên kia bờ Thái Bình Dương. Đây là cuốn phim được tiếp nhận trên toàn thế giới vào thời điểm ấy. Bạn có thể không xem phim, không đọc truyện Love Story, nhưng bạn khó có thể không biết đến bản nhạc cùng tên Love Story hoặc bằng nguyên tác “Where do I begin…”, hay qua lời dịch của Phạm Duy: “Biết dùng lời rất khó…”

Một sinh hoạt bình thường khác của Saigon. Đây là đường Nguyễn Huệ, lúc ấy người ta gọi nó là đại lộ Nguyễn Huệ bởi nó là một con đường lớn chia làm bốn lằn xe tựa như bốn con đường nhỏ nhập lại với hai dãy kiosk bán hoa, đồ lưu niệm, tiệm sang băng nhạc tiệm chụp hình,… Những kiosk ấy và thương xá Tax ở phía trước mặt của đôi nam nữ. Và phía sau lưng họ, sau lưng người chụp ảnh dạo đang tươi cười kia là Tòa Đô Chánh.

Trung tâm của bức ảnh là một cặp tình nhân. Và bối cảnh hay background là rạp ciné Rex đang chiếu một cuốn phim về một cặp tình nhân khác. Một cặp tình nhân với một chuyện tình đẹp và một kết thúc bi thảm, hay là ‘tragic’ như người ta đã gọi nó như vậy khi cô gái bị tử thần cướp đi từ vòng tay ôm của chàng trai.

Lúc ấy giới trẻ Saigon thuộc lòng câu nói của Oliver ở những phút cuối phim: Love is not having to say sorry. Love means never having to say you’re sorry. Cô gái trong Love Story, Jenny, là sinh viên nhạc cổ điển, Jenny yêu Mozart, Bach, Beatles và… Oliver! Dĩ nhiên. Hai câu thoại ấy trong phim đã được khuếch tán và bắt chước trong nhiều cuốn truyện ở Saigon thời ấy.

Con đường Nguyễn Huệ thanh bình ấy còn có thương xá Tax với tiệm kem Pôle Nord, xuống một chút nữa – trên đường Lê Lợi – là kem Mai Hương, ở đó có một rạp ciné nữa – trên đường Pasteur – mà người ta gọi là Casino Saigon –để phân biệt nó với Casino Dakao trên đường Đinh Tiên Hoàng. Đường Pasteur lại có nước mía Viễn Đông và phá lấu gỏi bò kho tuyệt chiêu của những đồng hương Kim Dung trong Chợ Lớn đem ra đó bán.

Phía tay trái của đôi tình nhân là rạp ciné mini Rex và hành lang Eden trổ ra một con đường nổi tiếng khác của Saigon: đường Tự Do, hay là Catinat như những người Saigon cố cựu, những francophile vẫn gọi. Trên con đường này có ba địa điểm lừng tiếng như bộ ba Café de Flore – Aux Deux Magots – Brasserie Lipp ở Paris, đó là La Pagode, Givral và Brodard ở cùng một phía đường theo thứ tự kể trên nếu như ta đi bộ từ nhà thờ Đức Bà xuôi theo con dốc đổ về bến Bạch Đằng. Còn rất nhiều điều khác ở Saigon gợi nhớ Paris. Thời đó Saigon đã chẳng từng được gọi là Le Petit Paris hay là ‘tiểu Paris’ đó sao?

Đôi tình nhân đi lướt qua ống kính của Depardon, cô gái dường như có thoáng thấy người chụp ảnh – qua ánh nhìn trực diện, thẳng vào ống kính – nhưng anh thanh niên thì nhìn cô gái, không nhìn Depardon.

Sau cái khoảnh khắc được ghi vào phim nhựa ấy, tôi không biết đôi nhân tình sẽ đi những đâu, sẽ vào quán nào, mở cánh cửa nào trong những quán xá ở những địa điểm trên. Có lẽ họ sẽ không vào La Pagode, chỗ ấy thường là nơi tụ hội của các nhà văn Saigon vào thời điểm ấy như Mai Thảo, Nguyễn Xuân Hoàng, Viên Linh, Nguyễn Quốc Trụ, Huỳnh Phan Anh, Văn Quang. Và nhiều nữa nhưng tôi không biết – và không nhớ – hết. Họ chắc cũng không vào Givral vì anh thanh niên là sinh viên sĩ quan nghèo, họ chả tốn tiền để vào đó. Brodard cũng vậy, đắt quá, cô gái có thể chép miệng rồi kéo tay chàng trai bỏ đi – tôi nghĩ vậy!.

Vậy thì họ đi đâu? Pôle Nord có lẽ vừa với túi tiền của họ? Lại có máy lạnh để có một chút Paris trong không gian, và để tạm tránh cái nắng đổ lửa của một Saigon nhiệt đới? Hay họ sẽ tiếp tục dắt tay nhau đi dọc con đường Lê Lợi xuống ngay góc Pasteur uống ly nước mía? Họ dắt tay nhau chắp-đôi-tay-thiên-thần-đi-suốt-mùa-xuân như lời Việt Phạm Duy đã đặt cho bài hát?

Và rồi họ sẽ ra sao khi hết mùa xuân sang thu sang đông?

Nhưng thôi, tôi đã nghĩ ngợi quá nhiều, hoặc mơ mộng lạc quan quá trớn. Hạnh phúc của đôi nhân tình sẽ không dài lâu khi ta nhìn lại bức ảnh và ý thức được cái mốc thời gian 1972 ấy.

Tôi có một vài kịch bản cho Love Story của đôi tình nhân này. Anh sẽ ra trường, sẽ chỉ huy một tiểu đội và ngã gục trong chiến tranh tàn khốc không phân biệt lính mới lính cũ ngay chính lần chạm súng đầu tiên khi đơn vị anh chạm địch?

Anh sẽ sống sót cho đến khi tàn cuộc chiến – điều này rất nhiều khả năng xảy ra vì chiến tranh sẽ chính thức kết thúc chưa đầy hai năm sau đó thôi – và anh sẽ sống phần đời kế tiếp của anh trong trại tù cải tạo. Và rồi khi anh trở về, anh có còn mái ấm với người vợ hiền hay không?

Tôi không biết được. Có thể còn. Và chuyện ngược lại cũng là một xác xuất khả tín, bởi tôi đã chứng kiến nhiều gia đình tan nát khi người chồng phải “học tập cải tạo” trong khi người vợ trẻ và những đứa con chẳng biết phải xoay sở ra sao trong một xã hội mới đầy nghi kỵ. Nhưng rồi dù còn hay mất, là một công dân hạng hai, là sĩ quan ‘Ngụy’ anh sẽ khó mà sống nổi trên chính quê hương của mình, anh sẽ tìm cách đi ra biển Đông, anh sẽ bỏ mạng hay đến được bến bờ? Thôi, tôi không nghĩ tiếp nữa…

Và điều khác biệt giữa tấm hình này và tấm trước là Chiến Tranh. Ở đây, nó hiện ra rõ nét hơn. Tuy nhiên không khí chiến tranh cũng chỉ bảng lảng qua bộ quân phục của một sinh viên sĩ quan. Và sinh viên sĩ quan thì dù có là sinh viên võ bị Đà Lạt hay võ khoa Thủ Đức thì anh cũng chưa bao giờ ra chiến trường, bắn vào những người lính bên kia chiến tuyến, ít ra là trên lý thuyết. Anh đang hạnh phúc bên người yêu và một Love Story của riêng anh có lẽ còn “great” hơn, hay tragic hơn, bi thảm hơn mối tình “Love Story” trong phim ảnh tùy vào kịch bản mà tôi đã tưởng tượng, đã hư cấu ở trên.

Trong thời chinh chiến điêu linh, tôi hiểu được một điều là nhiều khi hư cấu không bắt kịp hiện thực. Hiện thực chiến tranh thường vượt quá khả năng tưởng tượng của các nhà văn, các nhà làm phim, và của con người nói chung.

Ba

Tòa Đô Chánh Saigon – Và “bức chân dung trên công viên buồn” 1972 – Ảnh Raymond Depardon

Bức ảnh kế tiếp, cũng vẫn trong loạt ảnh về Saigon của Depardon, Saigon dần rõ nét chiến tranh hơn hai tấm trước vì sự hiện diện của người lính từ bên kia bờ Thái Bình Dương. Anh ta sẽ trở về sớm một năm sau đó với hiệp định Paris 1973, nhưng những hệ lụy do anh gây ra từ những ngu ngốc muốn xía vào nội bộ miền Nam, muốn “run the war” – theo cách của các anh – từ 1963 vẫn còn mãi. Nhìn anh tôi không nghĩ anh là những người đã bày ra thế cờ bí để rồi chính anh không giải nổi phải tháo chạy mười năm sau đó.

Tôi thật không công bằng với anh. Thực ra anh cũng có cuộc sống thanh bình êm ả ở đất nước anh. Anh chỉ không may rơi vào số phần trăm bị gọi quân dịch và anh phải lên đường, qua một đất nước xa lạ và sẽ phải ở đó một năm hoặc 18 tháng theo luật định. Anh có lẽ đã phải bỏ lại sau lưng một gia đình, một ý trung nhân và một Love Story của riêng anh. Những độc giả tinh tế sẽ nhận ra một điều là phim Love Story được công chiếu trên khắp nước Mỹ vào dịp Giáng Sinh 1970, anh có lẽ đã xem phim ấy với người yêu của anh rồi, trước khi lên đường sang Việt Nam để rồi có mặt trong tấm hình này. Và ở đây, cách quê anh nửa vòng trái đất, nhìn lại cái affiche, cái poster Love Story trước Rex ấy, anh nghĩ gì?

Nhưng thôi, tôi lại lẩn thẩn lạc đề nữa rồi. Tôi vẫn chưa nói ra điều tôi muốn nói!

Điều tôi muốn nói ở đây là, thực ra, cái không khí chiến tranh chỉ rất mờ nhạt đối với cặp mắt bàng quan của người ngoại quốc, nhưng với người Saigon, nó được khắc đậm bởi bức chân dung phía trái tấm hình: bức chân dung của Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 11 Nhảy Dù, người nhận lệnh đến trấn giữ đồi Charlie trong mùa hè 72 và vĩnh viễn nằm lại trên ngọn đồi với bí số 1020 trong bản đồ quân sự đó với hơn 400 đồng đội.

Đối với Depardon, một người ngoại quốc và một người ngoại cuộc, có lẽ ông không biết người trong bức hình trước tòa đô sảnh là trung tá Nguyễn Đình Bảo, tôi nghĩ thế bởi bức chân dung bị cắt mất một phần phía trái khi ông lia máy bấm cặp nam nữ nắm tay nhau ở trung tâm tấm hình. Một photopgrapher chuyên nghiệp sẽ không phạm cái lỗi ấu trĩ là để cho các đối tượng, các “objects” mình muốn bắt bị cắt như thế.

Có lẽ Depardon không biết Nguyễn Đình Bảo. Và bức chân dung không nằm trong tầm nhắm của ông. Từ Pháp, ông ta đến Saigon, làm công việc nhiếp ảnh của ông, bắt được phần nào cái thần, cái không khí chiến tranh nằm khuất sau những sinh hoạt thanh bình của Saigon, rồi tiếp tục đến Biafra và Chad ở châu Phi xa xôi làm tiếp công việc nhiếp ảnh của ông, ông không biết là đã “bắt” được – suýt hụt – một nét chấm phá trong bức hình trên tạo thành cái mạch ngầm của một sinh hoạt xem chừng thanh bình ở bề mặt, nhưng lại giấu sau nó biết bao là điêu linh tang tóc. Tôi cho đây là một bức hình “ăn may” của ông!

Tôi nhìn bức hình. Và nghĩ đến một người lính khác đang ở rất xa con đường Nguyễn Huệ tại Saigon này. Người lính ấy ở tận miền Trung, ở phá Tam Giang. Và tuy xa, anh cũng đang thả hồn về Saigon, về thương xá Tax nằm ở trước mặt cặp tình nhân trong bức ảnh này. Anh nhớ Saigon vì người yêu của anh đang ở đó. Anh băn khoăn không biết giờ này người yêu anh đang ở đâu? Đang ở thư viện hay đang lang thang trên những con đường Saigon dưới những hàng cây “viền ngọc thạch len trôi”. Hay bận rộn với nhưng cuốn sách chuẩn bị cho kỳ thi sắp tới. Anh nghĩ tới người yêu với những quyển sách mở thâu đêm trên căn phòng cao ốc vàng võ ánh đèn để học thi. Nghĩ tới giờ thương xá Tax sắp đóng cửa và Saigon bùng lên sống nốt những phút cuối trong ngày trước khi giới nghiêm phủ xuống trên những con đường Saigon…

Trích đăng bài của tác giả Mai Xuân Vỹ đăng trên tạp chí Da Màu