Âm nhạc thời Vàng Son

Bài phỏng vấn nhạc sĩ Phạm Duy năm 2011: “Tôi về Việt Nam là vì tôi yêu nước”

1

Bài phỏng vấn này được đài BBC thực hiện năm 2011, sáu năm sau khi nhạc sĩ Phạm Duy chính thức về định cư ở Việt Nam. Nhạc sĩ Phạm Duy nói về những kỷ niệm, bước ngoặt và quan điểm nghệ thuật trong cuộc đời làm âm nhạc của ông.

Bài phỏng vấn này, đài BBC đã đặt ra rất nhiều câu hỏi về xuyên suốt cuộc đời và sự nghiệp của nhạc sĩ Phạm Duy, nhưng nhạc sĩ đã trả lời tránh né rất nhiều vấn đề “nhạy cảm”.

Mở đầu cuộc trao đổi, nhạc sĩ nói về nhạc cải cách được khởi xướng ở Việt Nam từ đầu thập niên 1930 và lý do vì sao ông lựa chọn dòng nhạc này để khởi nghiệp.

Phạm Duy: Về nhạc cải cách, trước năm 1930, nhạc ở Việt Nam là dân ca cổ (ancient oral poetry), được hát lên với âm giai ngũ cung và tùy theo sự sử dụng mà mang những cái tên như là hò làm việc, hò nghỉ ngơi, tuồng cổ, chèo cổ, hát quan họ, hát thờ, hát văn… Nhưng vì trong nước đang có phong trào cải lương, nên một vài loại phải mang thêm cái tên là tuồng cải lương, chèo cải lương. Tuy nói là cải lương, nhưng vẫn nằm trong hệ thống Trung Hoa.

Và về ca nhạc cũng thế, bài bản được viết ra mang tên là nhạc cải cách, nhưng đặc biệt đã ra khỏi hệ thống nhạc Tàu, chịu ảnh hưởng nhạc Pháp, do sự du nhập vào Việt Nam của những đĩa hát 78 tours.

Bài Cô Hái Mơ của tôi là một trong nhiều bài ca cải cách, sơ khởi của nền nhạc mới Việt Nam. Trong những năm 1943-1945, tôi lại là người có may mắn là một ca sỹ đầu tiên đi khắp mọi nơi ở trong nước, để biểu dương một loại nhạc mới mẻ và rất hấp dẫn, so với những loại nhạc cổ đang đi dần vào quên lãng.

  • Tại sao ông lại chọn nhạc cải cách để sáng tác, mà không sáng tác theo nhạc dân tộc?

Rất giản dị là tôi soạn nhạc mới, thì tôi phải bỏ cái cũ. Tuy nhiên, nhạc gọi là nhạc cải cách của tôi vẫn giữ được những yếu tố của nhạc dân ca cũ. Nó làm giàu cho nhạc Việt Nam, vì có trợ giúp của những đặc tính như là láy, lót, melisma, metabole, khiến cho phần melody vẫn giữ được tính cách của nhạc dân ca cổ truyền.

  • Nhạc mới của ông chịu ảnh hưởng như thế nào của nhạc dân tộc?

Nhạc cổ truyền ở ba miền, tức là miền Bắc, miền Trung, rồi miền Nam, thì cũng cùng một truyền thống. Nó là nhạc ngũ cung. Nhưng bởi vì giọng nói của người Bắc hơi khác giọng nói của người miền Trung và miền Nam, cho nên nó cũng có một vài ba chi tiết nho nhỏ.

  • Ảnh hưởng của âm nhạc Pháp đối với nhạc của ông và nhạc của Việt Nam nói chung thời Pháp như thế nào?

Người Việt Nam có may mắn là giao tiếp với nhiều nguồn văn hóa mới. Ví dụ, đầu tiên là âm nhạc ảnh hưởng nhạc Tàu, sau rồi tới nhạc Mỹ, rồi tới nhạc mà các ông gọi là nhạc Xô Viết. Thành thử nhạc Việt Nam là một sự kết hợp của nhiều luồng nhạc khác nhau.

  • Còn về ảnh hưởng của âm nhạc Hoa Kỳ?

Âm nhạc của Mỹ có vẻ ảnh hưởng nhiều nhất. Nhạc Mỹ thì không chỉ Việt Nam bị ảnh hưởng mà thôi, kể các dân tộc châu Phi hay châu Á, hay ở đâu cũng vậy, đều bị ảnh hưởng. Bởi vì loại nhạc Pop, Rock, hay Pop Songs của Mỹ cũng ngũ cung, chứ không phải là thất cung, cho nên nó dễ du nhập vào Việt Nam lắm.

Thứ nhất là cái hồi lính Mỹ có mặt ở Việt Nam, họ mang theo rất nhiều những đĩa hát nổi danh của thời 1960.

  • Thời đó, ông có đi xem một số ban nhạc Mỹ, hay ban nhạc Việt nào mà họ chơi nhạc Rock của Mỹ không?

Có chứ, các con tôi thành lập một ban nhạc, gọi là ban nhạc bốn người. Vì thế tôi cũng được biết qua về loại nhạc Mỹ, loại nhạc Pop songs như thế tôi cũng đã biết qua rồi.

  • Và ông nghĩ gì về nhạc Rock của Mỹ thời gian đó?

Âm nhạc thì nước nào cũng hay cả. Nhưng trước hết tôi là người Việt Nam, thì tôi phải cho rằng loại nhạc Việt Nam là hay nhất.

  • Ông có hay xem các ban nhạc Rock của Mỹ không, nếu có thì ông thấy thế nào?

Nếu kể ra thì dài lắm, bởi vì 30 năm trời ở bên Mỹ, tôi chu du khắp các nơi, tôi phải được nghe nhiều Ban nhạc nổi danh. Những loại như tứ quái Beatles tôi cũng được nghe. Rồi những loại nhạc như Folk Rock, James Taylor chẳng hạn, tôi cũng được đi xem. Hay lắm, bởi vì nước Mỹ lúc đó, cũng phải công nhận rằng cuộc chiến tranh gợi hứng cho nhiều nhạc sĩ. Mà thứ nhất là cuộc chiến tranh đó lại ở Việt Nam. Có nhiều bài nhạc dính líu tới Việt Nam. Thành ra, tôi rất thích. Đi nghe thì rất thích.

  • Ông bắt đầu học chơi guitar khi nào?

Nói cho đúng ra, khi tôi bắt đầu học nhạc, tôi cũng chẳng học ở trường nào cả. Lúc đó, năm 1930, guitar cũng được sử dụng ở Việt Nam rồi. Tiện thì dùng cái đó để sáng tác, cũng như để đệm đàn, bởi vì tôi đi hát rong, thì tôi phải cầm đàn tôi hát. Tôi cầm cái đàn nhẹ nhất, dễ đánh nhất là đàn guitar.

  • Đàn guitar đi vào âm nhạc Việt Nam từ bao giờ?

Tôi cũng không nghiên cứu về vấn đề đó, nhưng tôi chỉ biết rằng khi tôi sinh ra, thì ở Việt Nam, người ta đã dùng cây đàn guitar đó rồi.

  • Ảnh hưởng của cha ông tới ông như thế nào?

Bố tôi là ông Phạm Duy Tốn. Tôi bị ảnh hưởng của bố tôi. Bởi vì đó là một nhà văn phê bình xã hội, như là tiểu thuyết Sống Chết Mặc Bay chẳng hạn. Hay ông là nhà văn trào phúng với ba tập tiếu lâm. Trong âm nhạc của tôi, tôi rất yêu bố tôi, nên tôi cũng đả động tới hai chủ đề đó.

Tuy nhiên, bố tôi đã phải mang một bí danh là Thọ An để viết truyện Tiếu Lâm, thì tôi cũng không muốn cho xuất bản Tục ca, hay Nhục tình ca của tôi.

  • Tại sao ông muốn sáng tác dân ca mới?

Tôi nghĩ rằng tôi là người Việt Nam, nếu tôi muốn được gọi là một nhạc sĩ Việt Nam, thì tôi phải làm nhạc dân ca. Đó là chuyện rất giản dị. Chứ không có lý do mà tôi là người Việt Nam, tôi lại đi thờ phụng ông Beethoven, hay ông Mozart, hay là ông gì. Tuy là các ông rất hay, nhưng không phải của tôi. Tôi phải khởi sự sáng tác của tôi bằng những bản nhạc mang tinh thần Việt Nam và với chất liệu của Việt Nam nữa.

  • Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã viết nhiều bài như Xuất quân, Khởi hành, Tiếng hát trên sông Lô, Chiến sĩ vô danh, Thư chiến trường…, ông viết những bài đó vì tuyên truyền phải không?

Đúng, bởi vì lúc đó, cuộc kháng chiến chống Pháp, người Việt Nam lúc đó không có phương tiện nào hay bằng cách có những bản nhạc để khuyến khích người thanh niên đi kháng chiến. Thì phải có những bài đó. Nhưng bên cạnh những bài đó, tôi cũng có những bài không có dính líu gì về chính trị hay về chiến đấu gì cả. Những bản nhạc tình vẫn có như thường.

  • Các bài đó, như bài Xuất Quân, có ảnh hưởng gì với người dân?

Có chứ. Nhờ có bài Xuất Quân đó mà nhiều người Việt Nam, lúc đó họ hát nhiều lắm, nhờ thế mà họ có can đảm để họ xông vào đánh nhau với giặc Pháp. Tất nhiên không chỉ của tôi, mà còn của nhiều nhạc sĩ khác. Hồi đó ai đi theo kháng chiến, cũng làm những bản nhạc hay. Ngoài những bài như bài Xuất Quân của tôi, còn những bài của những người khác nữa. Thường thường cuộc kháng chiến thành công như vậy là vì những bản nhạc tuyên truyền đó.

  • Miền Bắc có vẻ rất thành công trong việc dùng âm nhạc để tuyên truyền đối với nhân dân. Những người Việt Minh đã làm điều đó như thế nào?

Việc đó không có gì là lạ cả. Bởi vì những người thanh niên trong cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, những người nào không phải là nhạc sĩ, thì họ đi lính, họ cầm súng. Còn người nhạc sĩ thì cầm đàn, thế thôi.

  • Ông đồng ý với việc dùng cây đàn để tuyên truyền, khuyến khích người dân đi chiến đấu?

Lẽ tất nhiên bổn phận của chúng tôi là thế. Bổn phận của người nhạc sĩ khi đi theo kháng chiến, thì phải dùng cái đàn của mình để xưng tụng cuộc kháng chiến. Tôi chỉ biết rằng tôi có bổn phận phải làm những bản nhạc đó. Ngoài những bản nhạc về tình ái, hay về những chuyện khác, thì những bản nhạc có tính chất gọi là tuyên truyền đó thực ra cũng là những bản nhạc yêu nước thôi. Đừng nói là tuyên truyền hay không tuyên truyền.

  • Nhưng miền Nam có dùng nhạc để tuyên truyền không?

Ở đâu thì cũng thế. Ví dụ như nước Việt Nam mình tự nhiên bị các đế quốc lớn chia ra làm hai nước. Người Việt Nam mình lúc đó không chủ động được. Thành hai nước lại đánh lẫn nhau. Thế thì phải dùng âm nhạc hay là cũng phải dùng súng đạn, thì chuyện đó là giản dị, nó như thường thôi. Nó rất thường tình. Không có gì phải làm lạ.

  • Ông muốn nói gì khi viết bài Chiến Sĩ Vô Danh?

Bài đó nằm ở trong những bản nhạc xưng tụng những người lính, những chiến sỹ vô danh. Đó là những chiến sỹ không ai biết tên mà chết vì đất nước.

  • Trong cuốn hồi ký của ông có nói về bài Bên Cầu Biên Giới, bài đó thì sao?

Đó là một bản nhạc tình, chứ không phải là bản nhạc chiến tranh hay tuyên truyền gì cả. Lúc đó tôi đang ở Lào Cai, tôi nhớ tới một người tình, thì viết bài đó thôi.

  • Ông phổ nhạc nhiều bài thơ, ông có thể giải thích quan hệ giữa nhạc và thơ trong âm nhạc Việt Nam?

Theo truyền thống văn hóa của Việt Nam, những bài thơ ngày xưa làm ra đều phải thêm chữ ca hay là ngâm vào đó. Ví dụ như Chinh phụ ngâm, hay là Gia huấn ca. Bởi vì ngày xưa, người Việt Nam vẫn còn thất học, dân chúng không phải người nào cũng đọc, cũng biết chữ. Thế thì phải dùng giọng hát để phổ biến tác phẩm văn thơ. Khi tôi phổ nhạc bài thơ, vào thời nay, là tôi chỉ muốn đóng góp, tôi dùng âm nhạc chắp cánh cho thơ bay lên, thế thôi.

  • Vào năm 1954, ông đi Pháp và bắt tay sáng tác trường ca Con Đường Cái Quan. Thời gian ở Pháp, ông còn làm gì?

Tôi học âm nhạc hai năm ở bên đó. Khi tôi đi Pháp học, không phải để học nhạc Pháp, học các tác giả, hay học âm nhạc nói chung, mà tôi chỉ học cách, lối, làm sao mà người Pháp, là ông Debussy, dùng âm giai ngũ cung, âm giai Piano mà toàn là nốt đen, để làm thành âm nhạc ngũ cung. Tôi nghiên cứu thế thôi, chứ tôi không phải đi nghiên cứu, học về lịch sử nước Pháp, âm nhạc nước Pháp, lịch sử của các nhân tài nước Pháp, bởi vì cái đó tôi thấy không quan trọng bằng cái lề lối làm việc của các ông. Ví dụ, như ông Debussy chẳng hạn.

  • Các đạo Phật, Lão, Nho có ảnh hưởng gì với âm nhạc của ông hay không?

Cái đó giản dị lắm. Nền văn hóa Việt Nam thừa hưởng kết quả của đạo lý Á Đông như là Khổng Giáo, Phật Giáo và Đạo Giáo. Do đó nhạc của tôi phù hợp dễ dàng với thị hiếu của người dân Việt Nam. Còn những bản nhạc Mỹ, Tàu hay Pháp, dù hay đến đâu chăng nữa, vẫn không vào được người Việt Nam. Bởi vì không phải của họ. Đó là những tác phẩm là kết quả của thời đại Phong Kiến. Ví dụ thế kỷ thứ 16, 17 là thế kỷ vàng son của nhạc cổ điển, phần nhiều các nhạc sỹ đều thoát thai từ ở những lớp người quyền quý, phong kiến mà thôi. Còn đối với người Việt Nam, thì người Việt Nam không nghe được.

  • Khi ông vô Nam năm 1954, ông đã muốn viết ca khúc về những điều gì?

Tất cả các chuyện tôi ở miền Bắc hay ở miền Nam, hay tôi ở bên Mỹ, thì chỉ là vì tôi thay đổi chỗ ở thôi. Cái đó là chuyện riêng tư mà không cần phải nói ra đây. Nhưng chỉ biết rằng từ khi tôi bắt đầu soạn nhạc, thì tôi đã có ý thức là âm nhạc là để harmoniser l’homme et la société. Âm nhạc thường thường dùng để điều hợp lại xã hội và con người. Từ lúc đó đến bây giờ, tôi không thay đổi gì cả. Có thể tôi ở chỗ này thì chính quyền đó như thế, tôi ở chỗ khác thì chính quyền ở đó như khác, nhưng tôi không theo chính quyền đó. Tôi theo ý của tôi thôi. Ý của tôi là thế này, nói cho đúng hơn, vấn đề là tôi chỉ muốn nước Việt Nam thống nhất, không bị chia rẽ nữa. Có thế thôi.

  • Nhưng nhạc của ông cũng bám sát thời cuộc đúng không?

Không thì làm sao mà tránh được. Thứ nhất, tôi có một bài hát mà tôi viết là tôi phải khóc, cười, theo mệnh nước nổi trôi, là trong bài Tình Ca của tôi đó. Thế thì nước tôi vui thì tôi vui, mà nước tôi buồn, thì tôi phải nói cái buồn, thế thôi.

  • Sau Tết Mậu Thân, ông đã viết 10 bài gọi là Tâm Phẫn Ca đúng không?

Không thì chuyện đó cũng lại nằm ở trong vấn đề tùy lúc. Có lúc tôi giận, tôi làm Tâm Phẫn Ca. Có lúc không. Có lúc tôi lại làm những bài thường thôi. Thế thôi.

  • Mục đích của ông khi viết những bài Tâm Phẫn Ca là gì?

Lúc đó chiến tranh đã đến chỗ gần như là cao độ nhất. Nhiều người chết quá, thì tôi phải nói lên. Tôi không ưa chiến tranh, có thế thôi. Cũng như ông Trịnh Công Sơn cũng vậy, ông ấy cũng không thích chiến tranh.

  • Ông có thể nói gì về Tục Ca?

Đó là những cảm xúc của tôi trước nhiều vấn đề. Nước Việt Nam đâu chỉ có một vấn đề. Nó nhiều vấn đề lắm. Có lúc người ta nói tục lên, có lúc người ta nói thanh. Hiểu không? Thì tôi phải theo người dân. Lúc đó ai cũng tức, cũng bực mình cả, thì phải làm tục ca. Có thế thôi. Nhưng mà tôi phải đắn đo một tí là tôi làm 10 bài tục ca thật đấy, nhưng tôi có phát hành. Ai muốn phê bình cái đó, không có bài đó để phê bình, là vì tôi không phát hành. Những bài đó không bao giờ xuất bản vì tôi không muốn.

  • Những bài đó có người hát không?

Bạn bè thì có người biết, nhưng mỗi người biết một bài, hai bài là cùng thôi. Bài tục ca của tôi là 10 bài. Anh phải nghe đủ 10 bài thì anh mới phê bình tôi.

  • Ông có thể giải thích chi tiết hơn về Tâm Phẫn Ca, như trong đó có bài Tôi Không Phải Là Gỗ Đá, ý của ông thực ra là gì?

Tôi không phải là gỗ đá, có thế thôi. Tôi không thể coi cuộc đời, người ta chết là người dưng nước lã, đâu có được. Người Việt Nam mà chết vì chiến tranh thì làm chúng tôi cũng đau khổ lắm. Cũng như ông Trịnh Công Sơn thôi.

  • Ông đã trình diễn một số lần với ông Trịnh Công Sơn?

Không, tôi không có bao giờ cả, nhưng tôi có đi hát chung với Khánh Ly.

  • Khi đi hát chung với Khánh Ly thì ông có cảm xúc như thế nào?

Bà ta hát hay lắm. Bây giờ bà vẫn được nổi tiếng lắm. Thì đó cũng là tình đồng nghiệp thôi, chứ không có gì khác. Có gì đâu mà phải quan trọng.

  • Theo tôi hiểu, ông đã viết Tâm Phẫn Ca sau Tết Mậu Thân và sau đó thì vào Mùa Hè Đỏ lửa 1972, ông cũng đã viết một số bài nói về Quân đội Cộng hòa phải không? Chẳng hạn như Điệp Khúc Trần Thế Vinh”.

Thường thường các anh ở ngoại quốc hay dựa vào những mảnh sống của tôi để nói về cái đó. Nhưng riêng tôi thì thấy là nó nằm chung ở trong sự nghiệp của tôi. Có lúc tôi vui, có lúc tôi buồn. Có lúc tôi chửi đổng. Lại có lúc tôi ngọt ngào. Đối với tôi không có quan trọng gì cả.

  • Ông có thể nói về kinh nghiệm của ông với mùa Hè 1972?

Đừng nhắc gì tới mùa Hè 1972 hay 1975 gì cả. Đối với tôi, thời gian là lúc đó, cái humour của tôi, cái cảm xúc của tôi nó ra. Ngày hôm sau thì tôi quên rồi. Thế thì anh nhắc cũng là vô ích.

  • Và ông cũng viết Tình Ca vào năm 1972 đúng không?

Bài đó là bài tôi phản đối sự chia đôi đất nước Việt Nam. Lúc đó là hội nghị Geneve đã chia đôi đất nước Việt Nam. Mà tôi không đồng ý. Tôi đưa hình ảnh một người lữ khách đi con đường, và đi đến đâu, dân chúng ca tụng người nghệ sỹ đi nối lại lòng người và đất nước. Lúc đó đất nước bắt đầu gần như là bị chia rồi. Lúc đó mới bắt đầu thôi, từ năm 1954 tới 1975 là 20 năm. Hai mươi năm đó, lúc nào tôi cũng đau đáu trong lòng. Và tôi cũng thấy trường hợp vô lý quá.

Tại sao nước Việt Nam tự nhiên lại chia đôi ra như thế, lại bị người ta làm cho cắt đôi ra như thế?

Thế nhưng khổ nhất là vấn đề cái lịch sử nó là như vậy mất rồi. Không riêng gì nước Việt Nam bị cắt đôi mà Triều Tiên, Đại Hàn, nước Đức cũng bị cắt đôi. Cái đó cho ta thấy rõ rang vấn đề là do tính cách lịch sử thôi.

  • Âm nhạc Mỹ tràn vào Việt Nam những năm 1960, ông nghĩ sao về nhạc Mỹ vào và nó ảnh hưởng tới nhạc Việt Nam ra sao?

Không, tôi không có ý nghĩ gi cả. Làm sao mà tôi ngăn cản không cho họ vào được, dù rằng không bao giờ tôi muốn nước Việt Nam bị ảnh hưởng bởi nhạc Mỹ đâu, nhưng làm sao tôi ngăn cản được? Việc làm của tôi là xưng tụng dân ca Việt Nam.

  • Cảm xúc của ông khi từ Bắc vô Nam hồi năm 1954 như thế nào?

Tôi chẳng thấy gì cả. Tôi chỉ thấy cuộc đời của tôi cũng giống như cuộc đời của những người dân thường khác. Trước kia thì không có vợ, có con. Từ khi có vợ có con thì phải có trách nhiệm với vợ con, thế thôi. Thế còn về việc tôi phải thay đổi chỗ ở như vậy là vì phải tránh nạn chiến tranh. Nó đến nơi, thì nó không cần biết là anh theo ai cả, mà chiến tranh đến là anh phải chạy thôi.

  • Ca khúc quan trọng nhất của ông là gì?

Nếu nói như vậy thì nó dài dòng quá. Thứ nhất là mỗi một bài hát nói thẳng ra đâu có gì là quan trọng. Nó như là bông hoa, sớm nở tối tàn. Hát xong rồi, có khi dân chúng họ quên ngay rồi. Họ cũng quên nữa, huống chi là tôi. Thế thì anh hỏi những câu đó thì tôi cũng khó trả lời lắm.

  • Ông cũng thuộc phong trào du ca phải không?

Lúc đó nhạc Việt Nam bị thương mại hóa, thành thử, tôi và một số anh em trẻ thành lập ban nhạc, đi hát cho anh chị em sinh viên, học sinh nghe, để chống lại phong trào thương mại hóa nhạc Việt. Du ca là đi hát du ca, đi hát mọi nơi, mà không lấy tiền. Đi như là những người hát rong. Tôi đi hát luôn luôn đấy. Còn nhiều những bức ảnh của tôi hát ở những nơi toàn học sinh, sinh viên nghe thôi.

  • Phản ứng của sinh viên như thế nào?

Họ thích lắm, bởi tự nhiên họ được nghe những bài nhạc mà không phải là nhạc thương mại. Nhạc thương mại lúc đó nó tầm thường lắm. Nó cũng chỉ có anh yêu em, em yêu anh thôi. Không có những trường hợp sâu sắc như những bản nhạc mà chúng tôi muốn dựng lên.

  • Ông có thể nêu một bài là ví dụ của phong trào Du ca?

Nhiều lắm, Trả Lại Tôi Tuổi Trẻ, tuổi trẻ lúc bấy giờ cũng bị người ta mê hoặc. Tôi phải làm bài hát Trả Lại Tôi Tuổi Trẻ. Nhiều lắm, rồi Mùa Đông Du Ca, toàn những bản nhạc hay.

  • Ông rời Việt Nam sang Mỹ năm 1975, ông có thể kể về toàn bộ chuyến đi và thời gian ông ở Mỹ được không?

Cũng vất vả lắm, nhưng cũng xong rồi. Đầu tiên tôi cũng không đi đâu được cả, bởi vì lúc đầu chỉ có 250.000 người Việt Nam ở rải rác khắp nơi, nhưng rồi nó lên đến 2 triệu người, thì tôi đi hát cho những người đó nghe.

  • Ông ở Philippines bao nhiêu lâu trước khi đến Mỹ?

Ở trong trại tị nạn hồi đó, đáng lý ra tôi phải đi ra ngoài ngay. Nhưng tại vì lúc đó tôi bị kẹt vì mấy người con còn ở lại. Thành ra tôi cũng nán lại. Nhưng hình như chỉ ở độ 3 hay 4 tháng thôi. Đi sang bên đó vào đầu tháng Năm, thì vào tháng Tám, tháng Chín thì tôi ra khỏi trại.

  • Và khi ông tới Mỹ thì có vấn đề gì không?

Không, không có vấn đề gì. Tôi không có coi cái gì là quan trọng cả. Tất cả giản dị lắm.

  • Khi đi Mỹ thì ông có tâm trạng như thế nào, ông có buồn không?

Đi Mỹ, phải đi Mỹ, thì vừa buồn, vừa vui. Buồn là vì phải bỏ nước ra đi, mất luôn cả mấy cái nhà nữa. Nhưng đi thì cũng là cơ hội để mình đi xem quốc tế, thế giới ra sao, lại vui.

  • Khi đi Mỹ, ông xuất bản cuốn Musics of Vietnam ra sao và việc biểu diễn âm nhạc của ông ở Mỹ thế nào?

Cái đó tôi viết lâu rồi, nhưng khi sang tới Mỹ, lúc đó mới kịp in ra. Cuốn Musics of Vietnam tôi viết từ lâu. Tôi đi gần như khắp nước Mỹ. Khổ nỗi là lúc đó tôi đã già rồi, đã trên 50 tuổi rồi, không đủ sức khỏe để đi nhiều thôi. Nhưng tôi sang bên đó, thì tôi đi hát chung với những người nhạc sỹ, ca sỹ Mỹ. Và đồng thời gia đình tôi cũng có mấy người đi hát với tôi. Hồi đó Khánh Ly cũng đi hát chung trong nhóm của chúng tôi. Chúng tôi vẫn đi luôn.

  • Thời gian ông đi Philippines, ông đã viết Tị nạn ca, Nhục ca đúng không?

Những bài đó là bài soạn ra trong lúc hoảng hốt, không nên nhắc đến. Tôi quên rồi.

  • Khi ông về lại Việt Nam, phản ứng của chính quyền thế nào, có vấn đề gì không?

Rất tốt. Khi tôi về, đầu tiên, tôi xin lại, hồi tịch lại, tôi lại trở thành người Việt Nam ngay. Tôi không còn là người Mỹ nữa. Đó là một cái rất tốt. Đối với tôi và chính quyền ở đây không có vấn đề gì cả. Họ cũng thấy tất cả mọi sự trong cuộc gọi là giao tranh giữa hai miền như vậy, thì không có ai…

  • Còn phản ứng của mọi người nói chung ra sao?

Rất tốt. Là vì khi tổ chức một đêm Ngày Trở Về ở Hà Nội, thì tất cả các ca sỹ thượng thặng đều tham gia hết.

  • Cảm xúc của ông khi trình diễn Phạm Duy – Ngày trở về ở Nhà hát lớn như thế nào?

Tôi rất mừng vì bao nhiêu năm nay, tôi tưởng người Việt Nam không ai còn hát nhạc của tôi nữa. Tôi về, tôi thấy là họ vẫn hát nhạc của tôi như thường. Vui lắm. Tôi còn nhớ là lúc còn trẻ, tôi làm bài Nhạc Tuổi Xanh. Trong đó có một câu là “Đường ta, ta cứ đi”, thì bây giờ thì “Đường về, ta cứ về” thôi. Giản dị. Hồi đó tôi cũng thấy bình thường thôi. Tôi đã đứng hát trên sân khấu Nhà hát lớn cách đây gần 60 năm rồi. Bây giờ tôi trở lại, tôi cũng vui chứ. Chỉ có vấn đề là hát không có hay như ngày xưa thôi, dở lắm.

  • Được biết là chỉ có 10% bài hát của ông được cho phép ở Việt Nam, cái này đúng không?

Đúng rồi, nước nào người ta cũng có những quy định về vấn đề cho phép hay không cho phép. Nói cho đúng ra, sở dĩ tôi chỉ có 1/10 sáng tác của tôi thôi, là cũng giản dị là vì tôi không đứng ra xin phép. Nếu tôi xin phép, có thể họ cũng cho ra đấy. Nhưng ở đây phải xin phép mới được. Thế thôi, không có gì khó cả. Rất giản dị. Những người ngoài thấy là hơi bất bình là vì tại sao tôi nhiều bài như vậy mà chỉ cho tôi có 100 bài thôi. Nhưng khổ nhất vấn đề là tôi phải đứng ra tôi xin thêm thì người ta mới cho chứ. Không xin thì người ta không cho.

  • Ông có băn khoăn gì về chuyện phép tắc đó không?

Tôi nói rằng tôi về đây, cứ hát một bài của tôi là cũng xong rồi. Đừng nói là được hát 100 bài. Tôi về đây không phải là tôi đi tìm danh vọng, hay tôi tìm đồng tiền kinh tế. Không phải. Tôi về đây là vì tôi yêu nước thôi. Mà tôi phải về vì người già nào cũng muốn chết ở quê hương của mình, thế thôi.

  • Ông có viết một số bài gọi là Hương Ca nói về cảm xúc của ông khi về nước đúng không?

Đúng, những bài đó là tâm tình của tôi đấy. Lúc tôi về nước, tôi làm 10 bài hương ca. Nhưng mới xin phép được 5 bài thôi. Bởi vì tôi chỉ mới xin phép 5 bài thôi. Ví dụ như bài Hương rừng Cà Mau. Đây là bài của nahf văn Sơn Nam. Tôi làm một bài để xưng tụng những người đầu tiên đi khai phá miền Nam.

  • Trước đây ông có một trường ca rất nổi tiếng là Mẹ Việt Nam, tác phẩm này có được phép không?

Mẹ Việt Nam và Trường Ca Miền Nam là hai bài đang xin phép. Cũng mới gửi đi xin phép, thành ra không thể nói gì hơn được nữa. Nếu mà được thì càng tốt, bởi vì những bài đó xưng tụng sự thống nhất của đất nước và con người.

  • Ngoài bài Mẹ Việt Nam, cũng có bài Việt Nam, Việt Nam, Việt Kiều ở Mỹ nghĩ gì về bài đó?

Người Việt Nam ở Mỹ, hay đi hải ngoại rồi, muốn nghĩ gì thì nghĩ, tôi không quan tâm. Bởi những người đó vẫn còn nuôi oán thù. Mà tôi chủ trương là sau 30 năm trời, thì phải đến các lúc mà có sự hòa hợp dân tộc. Thì phải thế thôi. Thế còn người nào cất tiếng lên chửi bới nhau chỉ vì đi về Việt Nam không thôi, thì tôi không nói chuyện với họ. Muốn nghĩ gì thì nghĩ. Khi tôi làm bài đó ra, tôi đâu có nghĩ đến trường hợp đến một ngày nào đó, có một người Việt Nam ở bên Mỹ lại hát bài đó. Tôi chỉ làm ra thôi. Cái tình cảm của tôi lúc đó vẫn là hòa hợp dân tộc.

  • Ông viết Mẹ Việt Nam năm 1965, tại sao lúc đó ông lại muốn viết bài này?

Đầu tiên nước Việt Nam mình sinh ra là một nước theo chế độ mẫu hệ. Tức là xưng tụng người đàn bà nhiều hơn. Tôi cũng dựa vào cái đó để tôi nói về lịch sử Việt Nam. Lịch sử Việt Nam thì cũng có những lúc chia rẽ nhau như thời Trịnh – Nguyễn phân tranh chẳng hạn. Thế nhưng cũng có thời họ thống nhất. Nước Việt Nam mình đã có thời kỳ chia cắt, thì phải có lúc thống nhất thôi.

  • Có người nói ông có công lớn với âm nhạc Việt Nam, ông nghĩ sao?

Không, không nói công với tội gì cả. Tôi sợ những cái đó. Ai khen tôi hay ai chê tôi, tôi đều sợ cả. Vì tôi làm việc cũng như người làm ruộng thôi. Làm ruộng thì phải cấy lúa, làm nhạc thì phải đánh đàn, giản dị thế thôi.

  • Có một số bài chưa nói tới như Gánh Lúa.

Ô, bài ấy hay lắm. Bài ấy vui lắm. Bài ấy là bài cuối cùng của tôi làm trong khi còn ở Kháng chiến. Bài ấy tôi diễn tả một đoàn người nông dân đi gánh lúa để nuôi lính, nuôi quân. Hay lắm. Khi tôi hát bài dân ca, thì cũng có khi có những người hát thay tôi bài Gánh Lúa. Nếu tôi không nhầm, thì tôi giữ được nhiều versions của những người này, người họ hát. Họ hát hay lắm, rất Việt Nam.

  • Rất nhiều ca sỹ đã trình bày các bài hát của ông, ông nghĩ gì về họ?

Nhiều lắm. Thái Thanh suốt đời hát nhạc của tôi. Còn Khánh Ly cũng hát. Ai cũng hát hết, những người nhạc sỹ già đó. Còn những người nhạc sỹ trẻ như Tấn Minh hay Đức Tuấn hay Mỹ Linh cũng đều hát nhạc của tôi hết. Tất nhiên là họ hát những bài đã được phép. Nước nào cũng có quy luật của nó chứ. Anh làm sao đi quá luật được.

  • Từ đầu 1960 so với Tết Mậu Thân, thì nhạc của ông có thay đổi không?

Cái đó thì phải để người khác người ta phê bình, chứ tôi không biết. Tôi chỉ biết làm thôi. Đại khái như bài nhạc của tôi làm hôm nay nó khác với bài trước như thế nào, thì tôi chịu chết (không thể biết được). Tôi không thể giải thích được. Người khác giải thích hộ tôi.

  • Nhưng có một số bài nói về thiên nhiên vào những năm 1950 và đầu 1960, như là Bài Ca Sao và Chiều Về Trên Sông, ông có thể nói gì về quan hệ thiên nhiên và âm nhạc?

Lúc đó là lúc tôi bỏ qua trường hợp nhìn vào đất nước Việt Nam. Tôi muốn nhìn vào cuộc đời nhiều hơn. Tôi nói những câu chuyện về Bài Ca Sao, Bài Ca Trăng, thì nó vượt ra khỏi nước Việt Nam rồi.

  • Từ năm 1954-1975 ở miền Nam, không khí âm nhạc thời đó như thế nào?

Tôi không nhớ được, quên rồi. Thời cuộc của Việt Nam thay đổi nhiều quá, thành ra tôi cũng quên mất.

  • Nhưng khi ông hát Tâm Phẫn Ca, sinh viên nghe thì họ thấy sao?

Cái đó thì họ phải thích chứ. Bởi vì cái đó cũng nói lên được lòng căm giận của họ cũng như của tôi, là vì chiến tranh kéo dài quá.

  • Về âm nhạc mà ông đã sáng tác sau khi về Việt Nam năm 2005, ông có thể nói về trường ca về Minh Họa Kiều?

Về đây tôi mới sáng tác được toàn vẹn Minh Họa Kiều. Vì Minh Họa Kiều dài lắm. Nó dài phải đến hơn 2 tiếng đồng hồ mới hết. Tôi mới làm được 3 phần, về đây tôi làm nốt là phần thứ tư, về đây mới làm được, xong rồi. Tôi làm Hương Ca là bản nhạc mới. Rồi tôi làm thêm những bài nhạc phổ thơ của thi sỹ Bích Khê. Đó cũng là những cái mới hết. Muốn biết nó ra sao thì phải mua đĩa để nghe thôi.

Trong Hương Ca nó nói gì? Nó nói về tình yêu nước. Mà yêu nước của Việt Nam nay nó khác với yêu nước của ngày xưa rồi. Ngày xưa tôi làm bài Tình Hoài Hương là vào 1950, thì cái đẹp của đất nước nó khác cái đẹp của bây giờ. Ví dụ như là ngày xưa còn có những người đàn bà con gái răng đen, và đồng thời ăn mặc quần áo nâu. Bây giờ người con gái, anh đi về vùng quê anh coi, họ mặc hoàn toàn giống như những người mới, chứ không phải như người cũ nữa. Vậy thì tình cảm của tôi cũng phải khác đi.

  • Ông chọn một bài thơ để phổ nhạc như thế nào, ông có thể cho một vài ví dụ?

Tại sao tôi chọn bài thơ của ông Hoàng Cầm, là vì lúc đó ông Hoàng Cầm là nhà vô địch của những bài thơ kháng chiến. Tại sao tôi lại phổ thơ của ông Phạm Thiên Thư, là vì lúc đó, ông Phạm Thiên Thư đưa ra những loại nhạc lúc đó gọi là Đạo Ca, là những cái mới hết. Ông Nguyễn Tất Nhiên là những bài ca ngộ nghĩnh, vui vẻ. Tôi chỉ có thể nói thế được thôi, còn đi vào chi tiết, không thể nói được.

  • Còn các bản Tị Nạn Ca thì sao?

Tị Nạn Ca là những bản nhạc nói chung về những vấn đề những năm không còn ở trong nước nữa. Đó là tị nạn chứ gì. Thế nhưng xong rồi thì tôi thấy là nó là những bản nhạc hơi “ảo ảnh quê hương”, chứ không phải là bản nhạc thật. Ngồi ở Bridgeway City mơ tưởng đến cánh đồng Việt Nam, thì nó hơi vô duyên quá (non-sense). Sau tôi quyết định tôi không nhắc đến nữa.

  • Giáo sư Trần Văn Khê sẽ viết về những tác phẩm nào của ông không?

Tôi không biết, chỉ biết là ông ấy đã viết được trên 100 trang rồi.

  • Ông là người rất nhạy về công nghệ, nhất là ứng dụng cho âm nhạc, ông đã sản xuất một CD đầu tiên ở Mỹ. Ông có thể nói gì về chuyện này?

Giản dị thôi, ngày xưa, tôi đi học ở trường Kỹ nghệ thực hành, thành ra những cái gì thuộc về vấn đề kỹ thuật, tôi thích lắm. Khi có được thời đại computer, năm 1982 là lúc computer ra đời, thì tôi vội vàng học ngay rồi. Từ đó tới nay, tôi áp dụng vào trong sáng tác nhạc, thì rất tốt. Nếu tôi không đi học được kỹ thuật, thì tôi không hiểu biết được kỹ thuật mới. Tôi nghĩ là tôi may mắn hơn những người khác là tôi thấy ngay được cái hay, cái ích lợi của computer và tôi dùng nó ngay.

  • Ông biết gì về phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe”? Âm nhạc của phong trào này khác gì với nhạc của ông?

Không, tôi không làm loại đó. Cái loại đó của người khác làm. Ông Tôn Thất Lập thì phải. Không phải tôi. Tôi không biết. Tôi không được nghe những bài đó. Tôi có biết là ông ấy có làm những bài hát là “Hát cho đồng bào nghe”, nhưng tôi không có ở trong tay để biết là bài đó ra sao. Tôi không dám phê bình.

  • Âm nhạc ở miền Nam Việt Nam ngày xưa có rất nhiều luồng, quan hệ giữa chúng ra sao?

Tôi cũng biết hết đấy, nói cho nó ngay ra mà nói là không biết thì không đúng, nhưng mà biết, nhưng nó không ảnh hưởng đến tôi gì cả. Tôi kính trọng những bài đó, thế thôi. Tôi không chê mà tôi cũng không khen.

  • Mục đích nhạc của ông những năm 1960 là gì?

Vẫn là con đường cũ tôi đi theo. Tức là vấn đề “khóc, cười theo mệnh nước”, lúc nào nước vui, thì tôi cười, thế còn lúc nào nước buồn thì tôi khóc.

  • Có sự kiện nào trong lịch sử làm cho ông buồn?

Không bao giờ tôi buồn cả, bởi vì tôi có bài hát gọi là “Sức mấy mà buồn”. Không bao giờ tôi buồn cả. Buồn làm gì, vô ích. Nếu có buồn, thì cũng chỉ buồn đại khái thôi, nói cho nó vui thôi chứ, không bao giờ tôi bị buồn cả.

  • Nhưng có một số bài buồn như là Ngậm Ngùi?

Ngậm Ngùi thì đâu có buồn. Đó là một bài hát an ủi. Ông ta làm thơ như vậy để khuyên mọi người trở về với đời sống bình thường thôi. Thì đó là an ủi nhau thôi chứ không có gì mà buồn.

  • Bài Quê Nghèo chẳng hạn?

Quê Nghèo thì thực sự là buồn. Đó là bởi vì chiến tranh. Tôi làm bài Quê Nghèo đó là người ở quê là người dân nghèo, đói nhất Việt Nam, lại còn bị chiến tranh nữa. Thì tôi diễn tả đó thôi.

  • Bài Quê Nghèo thì ông diễn tả điều gì?

“Tôi không xa kinh kỳ sáng chói”, có những ông già “Cày bừa thay trâu” thì khổ quá. Đó là một bài mà nhiều người Việt Nam rất cảm động, rất thích, là bởi vì tôi nói được những cái đó lên.

Theo BBC

1 Comment
  1. Nam Tien Hoang says

    Xem lại “Con đường cái quan” của Phạm Duy do TT Thuý Nga phát hành đi thì mới thấy Phạm Duy nói năng ” bất nhất “!!! Cuối cùng vì PD đã mất nên không muốn nói nữa ! Chỉ tâm sự rằng tất cả những bài hát của PD trong tủ nhạc của tôi bây giờ không giữ nữa…

Leave A Reply

Your email address will not be published.